Saturday, June 27, 2026

Trung tướng Trần văn Trung, vị ân nhân của tôi


Lời người viết: Có thể bài viết này trung tướng Trần văn Trung không thích. Bởi bản tính ông rất khiêm nhường. Tuy nhiên, đối với tôi, tôi cần phải nói lên những gì tôi mang nặng trong lòng. Xin ông vui lòng miễn chấp và tha lỗi cho một đàn em của ông. (THT)

(trích từ Cảm Tạ Văn Chương, đang viết)
Sau khi lập gia đình, tôi đã nghĩ đến sự dừng chân lại. Nhất là từ khi đọc truyện dịch Người Lữ Hành Cô Đơn, của Georghiu, kể về cuộc chiến đấu của một nhà văn Lỗ Ma Ni. Không phải để được trở thành anh hùng, được lãnh tụ đề cao, được bộ máy nhà nước vinh danh mà  để được sống và viết. Trong trí nhớ lù mù của tôi, vì quá lâu, tôi chưa hề được đọc lại, tôi cứ nhớ lại cảnh nhân vật chánh ngồi trong toa tàu, mỗi ngày hàng trăm cây số, chạy qua những vùng vẫn còn âm ỉ khói lửa, những trại binh, và những đoàn quân ra tiền tuyến…

Nhưng chiến đấu bằng cách gì, chiến  đấu như thế nào, để tôi còn được sống và được viết như nhân vật chính của tác phẩm.

Chiến đấu bằng cách gì, để tôi được trở về gặp người vợ mới cưới của tôi, khi tôi đang ở tại núi rừng, còn nàng thì tận mịt mùng dưới đồng bằng châu thổ.

Chiến đấu bằng cách gì để nàng còn hy vọng thấy chồng, khỏi làm cảnh chinh phụ mòn mỏi đợi chờ.

Tôi bỗng nghĩ đến một người cấp cao nhất trong binh chủng chiến tranh chính trị. Người ấy là Trung tướng Trần văn Trung, tổng cục trưởng.

Hãy thử một lần. May ra ông động lòng từ tâm.

Thế rồi, tôi viết một tờ đơn trình bày những nguyện vọng của tôi:  Xin được chuyển qua ngành chiến tranh chính trị và được làm phóng viên chiến trường.

Tôi cắt những trang báo, những bài viết của tôi,  những tin tức liên quan đến những lần tôi bị thương, những huy chương tôi có, cùng những tác phẩm mà tôi xuất bản, rồi bỏ tất cả vào một phong bì lớn. Trên phong bì tôi viết: Kính gởi Trung Tướng Trần văn Trung, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, KBC…, thêm hàng chữ đậm: THƯ PHÁT RIÊNG…

Sau khi gởi đi rồi, tôi mới biết mình đã quá rồ dại. Làm sao được. Đâu phải dễ gì để được chuyển về một nơi bình an mà chờ đợi hòa bình. Đâu phải dễ gì được trở thành một phóng viên chiến trường khi tôi không có lấy một ngày học chiến tranh chính trị, chưa hề trải qua một khóa huấn luyện về chiến tranh chính trị.
Bây giờ tôi chỉ biết chờ đợi  những ngày trọng cấm…

Tôi đã phạm một kỷ luật nặng của quân đội, là không tuân theo Hệ Thống Quân Giai. Đó là cái lỗi không thể tha thứ được.
****

Vậy mà, hôm ấy, tôi quá vui. Ôi, có phải phép lạ không. Tôi rưng rưng. Tôi chắp tay vái lạy tứ phương. Vái lạy từng bụi cây, ngọn cỏ. Tôi tin cậy vào tình người. Tôi đã viết thư cho Y. về tin mừng này.  Mùa xuân, hoa sứ tràn ngập cả khu cư xá sĩ quan. Những hàng muồng nở hoa vàng ở dọc theo đường từ Bộ Tư Lệnh về  phố. Đàn chim én bay giỡn trong không gian màu trắng sữa. Tôi mừng quá. Có phải đây là một sự sắp đặt sẵn của định mệnh. Có phải câu “Hết cơn bĩ cực đến hồi thới lai” chăng?

Tôi tin vậy. Cái sự việc lạ lùng nhất, không thể tưởng tượng cho một kẻ xuất thân từ đơn vị hai quản trị mà tờ sự vụ lệnh vẫn còn ghi rành rành: “Sĩ quan đương sự phải phục vụ ở đơn vị tác chiến, xa trục lộ giao thông”.

Có lẽ tôi còn may mắn hơn tất cả những người may mắn, bởi vì khó có ai được quyền lựa chọn một đơn vị mình ưa thích trên toàn cõi miền Nam như tôi. Như cái công điện đánh lên từ Tổng Cục Chiến tranh chính trị, đại ý cho biết Tổng cục chấp thuận ý nguyện của tôi, và hỏi tôi, muốn về nơi nào. Vùng I,II, III, IV hay thủ đô.

Dĩ nhiên là tôi chọn vùng IV. Nơi có Y., người nữ độc giả của tôi, và  trở thành người vợ mới cưới của tôi.

Bây giờ tôi chỉ chờ lệnh thuyên chuyển. Hết rồi lời ca của TCS như thay tôi nói về cuộc tình trong chiến tranh: Một người về đỉnh cao. Một người về vực sâu… Nhưng mà không phải là Để cuộc tình chìm mau, mà cuộc tình càng tha thiết, càng mạnh mẽ hơn bao giờ.
 đọc tiếp
Tôi kể với vợ tôi là anh đã chiến đấu, và chiến thắng. Ba anh, mỗi đêm thắp nhang cầu khẩn Phật Trời, viết hàng trăm thư gởi dân biểu KMT, nhưng bình nhang càng lúc càng đầy ắp… Những tin tức đăng trên Văn, Bách Khoa, thay tòa soạn kêu cứu để anh khỏi đi thám kích với đôi mắt cận thị nặng, hay sau khi bị thương, thì cũng trở thành tiếng kêu trong sa mạc. Họ làm sao biết là anh đâu cần.

Phải. Gần bốn năm ở một đơn vị dữ dằn nguy hiểm là đơn vị thám kích, thì quá chai lỳ rồi. Một trung đội không bao giờ đầy đủ quân số. Tối đa là 18. Quân số ma, kiểng, nào ai biết. Nhưng mà chúng tôi dư tràn lửa và tình đồng đội. Chúng tôi đã gắn bó với nhau, dìu dẫn nhau. So với tôi, họ – những người lính thuộc cấp – đâu có ai để nhờ cậy tựa nương. Và cũng vì không có những điều kiện “cổ cánh” “con ông cháu cha” (COCC), nên họ mới có mặt ở đơn vị được xem là đơn vị nguy hiểm nhất của sư đoàn. Còn tôi, ít ra tôi vẫn là một thiếu úy. Tôi hơn họ tiền lương, hơn họ quyền hạn, hơn họ là có người hầu cận, mang ba-lô, nấu nướng như một đầu bếp ngoài chiến trường.

Vậy mà, giờ đây tôi lại yếu hèn để làm đơn từ kêu gọi lòng thương hại của trung tướng. Không, tôi mong được trở thành một phóng viên chiến trường. Tôi sẽ tiếp tục sống và viết. Tôi muốn mắt tôi mở ra lớn hơn ở tầm nhìn thay vì thu hẹp lại của một thiếu úy trung đội trưởng. Mắt tôi độ nặng, nhưng tôi muốn thấy nhiều hơn, rộng hơn. Tôi sẽ mang cái kinh nghiệm đánh giặc cộng vào kinh nghiệm viết văn để thực hiện giấc mơ của tôi. Viết một tác phẩm về chiến tranh VN với tất cả sự trung thật nhất.

Còn nữa. Còn em. Tại sao em là vợ anh. Để anh phải nghĩ đến một sự dừng lại, để anh phải mơ ước một ngày có em nấu cho chồng một bát canh chua cá lóc… Em không bao giờ than thở vì có người chồng là lính thú. Nếu có chăng chỉ là lời cầu nguyện.
Vâng, lời cầu nguyện của em, của ba anh, chắc đã được nghe. Anh đang chờ lệnh thuyên chuyển đây.

******

Vậy mà người ta không chấp thuận. Một tuần sau, tôi nhận được công điện của Phòng Tổng Quản Trị / Bộ Tổng Tham Mưu, bản sao, cho biết Bộ Tổng Tham Mưu không chấp thuận đề nghị của Tổng Cục CTCT. Lý do đương sự không phải nằm trong quân số CTCT.

Thế là xong. Xem như niềm mơ ước của một người lính viết văn không được thành tựu. Tôi kể với vợ tôi về tin buồn. Nàng khóc. Tôi không thể ngờ chuyện quá dễ, khi mà quả bóng đã xem như năm được rồi, thì cuối cùng nó lại vuột khỏi tầm tay.
Để rồi, mỗi ngày đôi giày trận càng lún vào vũng bùn đất đỏ của thị trấn BMT. Để rồi mỗi ngày tiếng hát của Lệ Thu từ rạp chiếu bóng bên cạnh cư xá, càng về đêm càng nghe rõ, như làm nhức buốt buồng tim qua bài Nghìn trùng ngăn cách…

***

Không thể ngờ khoảng một tuần sau đó, tôi lại nhận thêm một công điện nữa. Lần này, BTTM cho biết tái xét và chấp thuận theo như đề nghị của Tổng cục CTCT. Rõ ràng, Tổng cục đã thêm một lần can thiệp cùng Bộ TTM.

Tôi viết lại câu chuyện có tánh cách cá nhân này, để nói lên tấm lòng biết ơn của tôi đến Trung tướng Trần văn Trung. Ông đã giúp tôi được đoàn tụ với vợ con tôi, giúp tôi trờ thành một phóng viên chiến trường thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long như tôi mơ ước. Và nhất là hôm nay, tôi còn sống đây, để viết bài này, cũng là nhờ cái ân quá lớn đối với ông.
Một lần nữa, đàn em này xin được cảm ơn ông.

Tiểu Sử Trung Tướng Trần Văn Trung

 

Trần Văn Trung (sinh năm 1926) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia được Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Trung Việt Nam. Khi còn là một sĩ quan cấp úy ông chỉ có một lần chỉ huy đơn vị tác chiến (Tiểu đoàn trưởng). Sau này ông đảm nhiệm những chức vụ Trưởng ban, Phòng hoặc Chỉ huy trưởng các Trường, Cục chuyên về đào tạo và yểm trợ; nên ông còn được mệnh danh là "Tướng Văn phòng". Nhìn bề ngoài ông có phong cách là một "nhà giáo" hơn là một vị tướng. Ông cũng là một Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng đặc trách Chiến tranh Chính trị (Tổng cục trưởng) với thời gian lâu nhất (1966-1975). Cũng là thời gian Đại tướng Cao Văn Viên giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng.

Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 14 tháng 2 năm 1926 trong một gia đình Nho giáo tại Hương Trà, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Thuở nhỏ ông là học sinh trường Tiểu học Hương Trà, sau đó học ở trường Trung học Tư thục Thuận Hóa, Huế. Năm 1945, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông tại Huế với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Được bổ dụng làm công chức ngoại ngạch tại Huế một thời gian ngắn tước khi gia nhập Quân đội.

Quân đội Liên hiệp Pháp

Cuối tháng 9 năm 1948, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 46/200.975. Theo học khóa 1 Bảo Đại (sau cải danh thành khóa Phan Bội Châu) tại trường Võ bị Huế,[2] khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948. Ngày 1 tháng 6 năm 1949 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[3] Ngay sau khi ra trường ông được cử đi tu nghiệp khóa căn bản Bộ binh tại trường Võ bị Saint Cyr, Pháp.

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Năm 1950, sau khi mãn khóa về nước, ông phục vụ Quân đội Quốc gia và được cử làm Trung đội trưởng trong đơn vị Bộ binh. Qua năm 1951, ông tiếp tục được cử đi học và tốt nghiệp Thủ khoa khóa Chỉ huy và Chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà Nội.[4] Cùng năm ông được thăng cấp Trung úy, được cử làm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Địa phương Trung Việt[5] Đầu năm 1954, ông được thăng cấp Đại úy và được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 khinh binh Việt Nam hoạt động trên vùng châu thổ Sông Hồng. Sau hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, ông cùng Tiểu đoàn di chuyển vào Nam.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Tháng 11 năm 1955, sau khi chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá, vẫn tiếp tục làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27. Đầu năm 1957, ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý thuộc Bộ Quốc phòng kiêm Trưởng phòng 5 thuộc Bộ Tổng Tham mưu thay thế Trung tá Nguyễn Phước Đàng.[6] Tháng 10 cùng năm, ông được cử đi làm Tùy viên Quân sự ở Pháp thay thế Trung tá Quách Xến.[7] Tháng 10 năm 1958 ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Tháng 10 năm 1960, mãn hạn Tùy viên Quân sự, về nước ông được cử làm Thanh tra Thanh niên khu vực bắc Cao nguyên Trung phần. Đầu năm 1963, ông được cử làm Tham mưu phó Nhân viên thuộc Bộ Tổng tham mưu. Sau cuộc Chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964 của tướng Nguyễn Khánh. Đầu tháng 2, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Đà Lạt thay thế Thiếu tướng Trần Tử Oai. Tháng 6 cùng năm bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Võ bị lại cho Chuẩn tướng Nguyễn Văn Kiểm, để tái nhiệm chức vụ Tham mưu phó nhân viên kiêm Trưởng phòng 1 Bộ Tổng tham mưu.

Đầu năm 1965, ông được cử làm Trưởng phòng Tổng quản trị Bộ Tổng tham mưu thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn.[8] Thượng tuần tháng 2, bàn giao chức vụ Trưởng phòng Tổng quản trị lại cho Đại tá Bùi Đình Đạm. Trung tuần tháng 2 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức thay thế Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn đi làm Tư lệnh Biệt Khu 24, Kontum. Ngày kỷ niệm 2 năm ngày Cách mạng thành công 1 tháng 11 cuối năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.[9]

Thượng tuần tháng 12 năm 1966, bàn giao chức Chỉ huy trưởng trường Bộ binh lại cho Thiếu tướng Bùi Hữu Nhơn, để đi nhận chức Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Tháng 7 năm 1971, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

1975

Trưa ngày 30 tháng 4, ông cùng vợ và các con nhỏ di tản bằng đường biển đến Vịnh Subic thuộc Philippines. Đến tháng 7 năm 1975, ông xin đi định cư tại Paris, Pháp.

Năm 1979, ba người con lớn của ông (gồm 2 trai, 1 gái) từ Việt Nam cùng sang Pháp đoàn tụ.

Huy chương

-Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (ân thưởng)
-Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu của VNCH
-Legion of Merit của Hoa Kỳ
-Văn huy Bội tinh (Cloud Medal) của Trung Hoa Quốc gia
-Security Medal của Đại Hàn Dân Quốc.

Chú thích

  1.  Tổng cục Chiến tranh Chính trị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu.
  2.  Khóa 1 Võ bị Huế còn được gọi là khóa 1 Võ bị Quốc gia Việt Nam
  3.  Tốt nghiệp khóa 1 Phan Bội Châu Võ bị Huế, sau này lên tướng còn có các Trung tướng Nguyễn Hữu Có, Tôn Thất Đính, Đặng Văn QuangNguyễn Văn Thiệu, các Thiếu tướng Nguyễn Văn ChuânTôn Thất Xứng, các Chuẩn tướng Phan Xuân NhuậnLê Trung Tường.
  4.  Tiền thân của trường Đại học Quân sự và trường Chỉ huy Tham mưu sau này.
  5.  Còn gọi là trường Sĩ quan Đập Đá, đặt trên cơ sở cũ của trường Võ bị Huế đã di chuyển về Đà Lạt. Trường Võ bị Địa phương Trung Việt tiếp tục Huấn luyện và đào tạo được 3 khóa sĩ quan hiện dịch nữa. Trong số sĩ quan tốt nghiệp của 3 khóa này về sau có 3 vị được lên tướng là Thiếu tướng Võ Văn Cảnh, Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp và Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ.
  6.  Trung tá Nguyễn Phước Đàng về sau giải ngũ cùng cấp.
  7.  Trung tá Quách Xến tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, giải ngũ ở cấp Đại tá.
  8.  Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1927 tại Sài Gòn, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau cùng là Đại tá Giám đốc Nha An ninh Hành chính trong Bộ Quốc phòng.
  9.  Trong thời gian Chỉ huy trưởng trường Bộ binh, ông đã tổ chức lễ mãn khóa cho các khóa: Khóa 20 tháng 12 năm 1965, Khóa 20 phụ tháng 4 năm 1966 và Khóa 21 tháng 8 năm 1966.
  10.  Đại tá Nguyễn Huy Hùng sinh năm 1929 tại Lạng Sơn, tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Huế
  11.  Đại tá Nguyễn Văn Thái tốt nghiệp khóa 2 Võ bị Huế
  12.  Đại tá Hoàng Đạo Thế Kiệt sinh năm 1931 tại Hà Đông, tốt khóa 1 Võ khoa Nam Định
  13.  Đại tá Nguyễn Lễ Trí sinh năm 1920 tại Cần Thơ, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt
  14.  Chiến tranh Chính trị
  15.  Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh sinh năm 1922 tại Hà Nam, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt

Tham khảo

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011), Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.