Sunday, October 24, 2021

Chuẩn Tướng Phan Đình Soạn Tử Nạn Trực Thăng ngày 25 tháng 2 năm 1972

Tướng Phan Đình Soạn Bị Tử Nạn Trực Thăng

Saigon VIETNAM PRESS in English Morning Edition 28 Feb 72

[Bản dịch] Saigon, Feb 26 (VP)— Phát ngôn nhân QLVNCH Trung Tá Lê Trung Hiền chiều thứ bảy nói Chuẩn Tướng Phan Đình Soạn, tư lệnh phó Vùng I Chiến Thuật bị tử nạn trong một tai nạn trực thăng ngoài khơi biển Đà Nẵng, khoảng 20 cây số cách bờ.

Trong buổi tường trình thông thường tại Trung Tâm Báo Chí Quốc Gia, Trung Tá Hiền cho biết là chiếc trực thăng thuộc Không Lực Hoa Kỳ chở Chuẩn Tướng Soạn, Đại Tá Ngô Hán Đồng, tư lệnh pháo binh Vùng I Chiến Thuật và một tùy viên của Tướng Soạn, va chạm vào cột ăng ten của chiến hạm Chuẩn Tướng vừa mới viếng thăm và đã rớt xuống biển.

Trong khi đó, một phát ngôn viên Hoa Kỳ nói công cuộc tìm kiếm thi thể các nạn nhân được thực hiện tức khắc sau khi tai nạn xảy ra nhưng tới giờ chỉ tìm được có thi thể của ba nhân viên phi hành đoàn Mỹ.

Như vậy, một nhân viên phi hành đoàn Mỹ khác, Chuẩn Tướng Soạn, tùy viên của ông và Đại Tá Đồng vẫn được báo cáo là mất tích.(*)

Chuẩn Tướng Soạn, cựu tư lệnh lực lượng pháo binh, vừa thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu trong chức vụ tư lệnh phó Vùng I Chiến Thuật ngày 21 tháng 2 vừa qua.

Gốc Huế, Chuẩn Tướng Soạn, 43 tuổi, tốt nghiệp pháo binh Khóa 1 Thủ Đức và đã thụ huấn nhiều khóa học đào tạo ngành tham mưu.

[tài liệu lưu trữ tại Vietnam Center Archive – Douglas Pike Collection – Unit 08. Tôi tra lục thấy tài liệu này ngày 07 tháng 4 năm 2006]


(*) Ngày 1/8/2005 bà Đại Tá Ngô Hán Đồng, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn I, tử nạn cùng với Chuẩn Tướng Phan Đình Soạn ngày 25/2/1972, yêu cầu tôi đính chính lại là chiếc trực thăng không nổ tung trên trời, mà đã rớt trong đất liền sau khi trực thăng bị hư hại nặng vì đụng phải giây ăng ten khi cất cánh rời khỏi boong tàu chiến hạm Mỹ. Gia đình đã tìm được thi hài của cố Thiếu Tướng Soạn và cố Chuẩn Tướng Đồng.

2. Vớt Xác của Chuẩn Tướng Phan Đình Soạn và Đại tá Ngô Hán Đồng Tại Vůng I

Vào tháng 2, sóng gió vẫn còn trong mùa biển động tại Đà Nẵng, trong một chuyến công tác hợp báo với Đệ Thất Hạm Đội . Chuẩn Tướng Soạn (CHT Pháo Binh) và Đại Tá Đồng đă cùng những người tùy tùng báo chí đã bị tử nạn khi chiếc trực thăng chở họ do 1 Thiếu Tá Phi Công Mỹ , cánh quạt đập vào Đài Chỉ Huy và rớt ngay trên biển. Sau 27 ngày tìm kiếm của Giang đoàn Trục Vớt Mỹ, nhưng không tìm được . Tư Lệnh HQ/V1ZH lúc đó là HQ Đại Tá Hồ Văn Kỳ Thoại đă gọi toán tôi trình diện và ra chỉ thị cho tôi bằng mọi cách để tìm kiếm chiếc trực thăng mà trong đó còn 3 người mất tích . Nảy ra một ý kiến trong đầu tôi liền xin TL cho một đặc ân là nếu chúng tôi có thể tìm được thì xin cho những ghe đánh cá (hợp tác với chúng tôi trong công tác tìm kiếm) được đánh cá 3 ngày trong vùng cấm để trả ơn cho họ . Thế rồi tôi tìm được 3 chiếc giả cào và ra đến mục tiêu nghi ngờ chiếc trực thăng lâm nạn . Sau nữa ngày tìm kiếm, lưới ca 3 chiếc ghe chạm phải mục tiêu ngầm ở dưới đáy biển, chúng tôi đă lặn thám.

Đây rồi chúng tôi đă tìm ra cánh cửa mang số I (Quân Đoàn I) và nghĩ rằng thân của trực thăng không xa vị trí đó. Sau đó chúng tôi đă tìm thấy, BTL đã thông báo cho chiếc tàu trục vớt Mỹ, với trang bị dụng cụ tối tân, hy vọng họ sẽ vớt một cách dễ dàng, thực sự người Mỹ họ muốn đảm nhiệm công tác đó vì thiếu tá phi công Mỹ bị kẹt lại trong trực thăng.

Sau 4 ngày họ lại đánh mất vị trí, vì thời tiêt lúc đó sóng gió nhiều và biển động. Một lần nữa TLHQ lại cho toán tôi trình diện, nhưng lần nầy tôi xin được đích thân trục vớt chiếc trực thăng lên.

Hai hôm sau , kể ra tròn 34 ngày chìm sâu dưới lòng đại dương, toán của tôi phối hợp với một số anh em thuộc sở phòng vệ duyên hải, đồng thời được Tr/uý Trần Cao Sạ từ LĐNN ra, chúng tôi đă xin quân vận cho chúng tôi một cần trục 20 tấn, và sau đó trong 2 ngày công tác, tìm thấy và vớt chiếc trực thăng về ngay trước BTL/HQ/VIZH, lúc bấy giờ Báo chí đăng những nguồn tin sai lạc nhưng tôi không muốn đính chính. Công tác này tôi đă được tưởng thưởng cấp sư đoàn và không vụ bội tinh danh dự.

Trung Úy Trịnh Xuân Tín
Liên Đoàn Người Nhái
Tháng 5 năm 2007

Thursday, July 1, 2021

Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường - 1936-2021

 

 

Mạch Văn Trường (sinh 1936), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng.[2] Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân vào thời kỳ Quân đội Việt Nam Cộng hòa hình thành (1955). Trong thời gian tại ngũ, ngoài chuyên môn là một sĩ quan chỉ huy đơn vị Bộ binh, ông cũng được giao phó chức vụ chỉ huy về lãnh vực Hành chính Quân sự.

Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh vào tháng 3 năm 1936 trong một gia đình trung nông gốc người Hoa tại Bạc Liêu, miền tây Nam phần Việt Nam. Ông học Tiểu học ở Bạc Liêu. Khi lên Trung học trên, ông được gia đình cho lên học ở Cần Thơ. Năm 1955, ông tốt nghiệp Trung học phổ thông tại Cần Thơ với văn bằng Tú tài 1 (Part I).

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Cuối năm 1955, sau khi rời học đường, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa, mang số quân: 56/101.520. Được theo học khóa 12 Cộng hòa tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 24 tháng 10 năm 1955. Ngày 2 tháng 12 năm 1956, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ngay sau đó, ông cùng với 130 sĩ quan cùng tốt nghiệp được sang Hoa Kỳ du học khóa Liên hợp các Binh chủng.

Đầu năm 1957, ông được thuyên chuyển đi làm huấn luyện viên khoa vũ khí tại Trung tâm Huấn luyện số 1.[3] Cùng năm, được cử đi du học lớp Bộ binh cao cấp tại trường Võ bị Lục quân Fort Benning, Columbus, Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ. Đầu năm 1958, mãn khóa học về nước, ông được thăng cấp Trung úy, tiếp tục nhiệm vụ làm Huấn luyện viên.

Năm 1962, ông được cử đi du học lớp Tác chiến Rừng rậm tại Mã Lai (The Jungle Warfare course in Malaysia), Philippines. Cùng năm ông được thăng cấp Đại úy và thuyên chuyển về Quân khu 4 làm Biệt đội trưởng Biệt đội Quân báo thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh. Năm 1964, ông tiếp tục được cử đi du học lớp Tình báo tác chiến ở trường Tình báo Viễn Đông Hoàng gia Anh tại Singapore.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1965, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử giữ chức vụ Trưởng phòng 2 tại Bộ tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh do Chuẩn tướng Phạm Quốc Thuần làm Tư lệnh. Qua đầu năm 1967, ông chuyển đi làm Phó Tỉnh trưởng Nội an kiêm Tiểu khu phó Bạc Liêu.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm, sau đó chuyển về Thủ đô giữ chức Tham mưu trưởng Tòa Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định.

Giữa năm 1969, ông được chỉ định vào chức vụ Đặc khu trưởng Đặc khu Thủ Đức. Giữa năm 1970, được cử đi học và tốt nghiệp khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp ở trường Chỉ huy và Tham mưu tại Đà Lạt.

Đấu năm 1971 mãn khóa học, ông được cử làm Trung đoàn phó Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh do Đại tá Bùi Trạch Dần[4] làm Trung đoàn trưởng. Tháng 7 cùng năm ông được lên giữ chức vụ Trung đoàn trưởng thay thế Đại tá Dần dưới quyền Đại tá Lê Văn Hưng Tư lệnh Sư đoàn.

Tháng 3 năm 1972, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Tháng 7 cùng năm, ông được chỉ định vào chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh vẫn do Chuẩn tướng Lê Văn Hưng làm Tư lệnh, sau đó Đại tá Trần Quốc Lịch thay thế làm tư lệnh Sư đoàn. Tháng 11 cuối năm, Bộ Tổng tham mưu biệt phái ông sang lĩnh vực Hành chính Quân sự và ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Long Khánh.

Đầu năm 1974, rời chức vụ Tỉnh trưởng, ông được cử theo học và tốt nghiệp Thủ khoa khóa Tổng thanh tra Quân lực. Tháng 4 cùng năm, ông được chuyển trở về Quân khu 4, phục vụ tại Sư đoàn 21 Bộ binh giữ chức vụ Chánh tranh tra Sư đoàn. Tháng 11 cuối năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh thay thế Chuẩn tướng Lê Văn Hưng được cử đi làm Tư lệnh phó Quân đoàn IV và Quân khu 4.

  • Sư đoàn 21 Bộ binh vào thời điểm tháng 4/1975, nhân sự của Bộ tư lệnh Sư đoàn và Chỉ huy các Trung đoàn được phân bổ trách nhiệm như sau:

-Tư lệnh - Chuẩn tướng Mạch Văn Trường
-Tư lệnh phó - Đại tá Nguyễn Hữu Kiểm[5]
-Tham mưu trưởng - Đại tá Lâm Chánh Ngôn[6]
-Chỉ huy Pháo binh - Trung tá Nguyễn Bá Nhẫn[7]
-Trung đoàn 32 - Trung tá Huỳnh Thanh Điền[8]

1975

Ngày 26 tháng 4, ông được Tổng thống Trần Văn Hương ký quyết định thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Ngày 30 tháng 4, ông chỉ huy Sư đoàn chiến đấu đến giờ chót.

Ngày 17 tháng 5, ông bị bắt tại Cần Thơ và đưa đi học tập và cải tạo từ Nam ra Bắc suốt 17 năm.[9] Ngày 11 tháng 2 năm 1992 mới được trả tự do.

Cùng năm 1992, ông được Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh theo diện H.O sang Mỹ tỵ nạn và định cư tại Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Huy chương

  • Huy chương Việt nam Cộng hòa:
    -Bảo quốc Huân chương đệ tam, đệ tứ và đệ ngũ đẳng
    -Lục quân Huân chương đệ nhất hạng.
    -Chương mỹ Bội tinh đệ nhị hạng.
    -Ba mươi hai Anh dũng Bội tinh đủ loại (9 nhành dương liễu, 8 ngôi sao vàng, 13 ngôi sao bạc và 2 ngôi sao đồng).
    -Ba Chiến thương Bội tinh và nhiều huy chương quân sự, dân sự khác.
  • Huy chương Hoa Kỳ:
    -Huy chương Commendation Medal (1969)
    -Hai huy chương Bronze Star with V Device (1969, 1971)
    -Huy chương Silver Star Anloc Battle (1972).
  • Giây biểu chương:
    -Màu Anh dũng Bội tinh (1963)
    -Màu Quân công Bội tinh (1966)
    -Màu Bảo quốc Huân chương (1971).

Gia đình

  • Thân phụ: Cụ Mạch Hữu Khương
  • Thân mẫu: Cụ Tô Thị Lến
  • Nhạc phụ: Cụ Lê Văn Trương
  • Nhạc mẫu: Cụ Nguyễn Thị Bê
  • Phu nhân: Bà Lê Thị Bạch Loan
  • Các con: Mạch Công Thành, Mạch Công Danh, Mạch Công Tài, Mạch Thị Hồng Đức và Mạch Công Hạnh

Chú thích

  1. ^ Ba lần phục vụ ở Sư đoàn 21 Bộ binh:
    -Lần thứ nhất: Đại úy Biệt đội trưởng Biệt đội Quân báo (1962-1964).
    -Lần thứ hai: Thiếu tá Trưởng phòng 2 (1965-1967).
    -Lần thứ 3: Chánh Thanh tra. Sau đó Tư lệnh Sư đoàn (1974-1975).
  2. ^ Là một trong 8 Đại tá được thăng cấp Chuẩn tướng vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, thời điểm từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1975 (trong đó có 3 tướng thuộc Quân đội và 5 tướng thuộc Cảnh sát Quốc gia)
    -Xem bài: Danh sách Chuẩn tướng Việt Nam Cộng hòa.
  3. ^ Tiền thân của Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  4. ^ Đại tá Bùi Trạch Dần sinh năm 1922 tại Hải Dương. Tốt nghiệp khóa 2 Võ bị Quốc gia Huế. Sau cùng là Liên đoàn trưởng Liên đoàn SVSQ tại trường Võ bị Đà Lạt. Giải ngũ năm 1973.
  5. ^ Đại tá Nguyễn Hữu Kiểm sinh năm 1932 tại Quảng Bình, tốt nghiệp khóa 3 Võ khoa Thủ Đức
  6. ^ Đại tá Lâm Chánh Ngôn sinh năm 1929 tại Vĩnh Long, tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt
  7. ^ Tốt nghiệp trường Sĩ quan Thủ Đức
  8. ^ Trung tá Huỳnh Thanh Điền tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thủ Đức
  9. ^ Là một trong 8 tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa đi học tập và cải tạo với thời gian lâu nhất từ 1975 đến 1992.
    -Xem bài: Tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bị tù lưu đày

Tham khảo

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

CÁO PHÓ  
Chúng tôi đau đớn báo tin cùng thân bằng quyến thuộc và các hội đoàn:   
Chồng, Cha, Ông, Cố của chúng tôi là:  
 
Ông Mạch văn Trường (Phillip Mạch)  
Chuẩn tướng / QLVNCH  
Pháp Danh Trí Quảng  
Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương  
Nguyên Tư lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh  
Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khóa 12 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam  
Sanh ngày 20 tháng 3 năm 1936 - Bính Tý  
Tạ thế lúc 4 giờ 35 phút ngày 30 tháng 06 năm 2021 (Nhằm ngày 21 tháng 5 năm Tân Sữu, Âm lịch) 
Tại Houston Healthcare Northwest Hospital, Houston, Texas  
 
Hưởng Thượng thọ 86 tuổi  
 
Linh Cửu hiện quàn tại nhà quàn Vĩnh Phước Northwest  
8588 Breen Rd. Houston, TX 77064, Phone: 832-321-8888  

CHƯƠNG TRÌNH TANG LỄ TỔNG QUÁT NHƯ SAU:  
Thứ Sáu, ngày 9 tháng 7, 2021  
3 giờ chiều  Lễ Nhập Liệm & Phát Tang  
4 giờ chiều Cử hành Nghi thức Tang lễ QLVNCH  
5 giờ chiều  Hội đoàn Phân ưu  
6 giờ - 9 giờ tối     Thăm viếng  
 
Thứ Bảy, ngày 10 tháng 7, 2021  
11 giờ sáng           Lễ Cúng Linh  
3 giờ chiều            Lễ cầu Siêu - Cúng Linh  
4 giờ - 9 giờ tối     Thăm Viếng  
 
Chủ Nhật, ngày 11 tháng 7, 2021  
10 giờ-12 giờ sáng Thăm viếng  
1 giờ chiều            Lễ Cầu Siêu  
 Cử Hành Nghi Thức Tang lễ QLVNCH  
                             Hội Đoàn Phân ưu  
2 giờ 30 chiều       Lễ Di Quan & Hỏa Táng  
Rước Hương Linh về Chùa Từ Bi Đạo Tràng  
 
TANG GIA ĐỒNG KHẤP BÁO  
 
Bà Quả Phụ Mạch văn Trường, nhũ danh Lê Bạch Loan (Julie Mạch)                                                   
Trưởng Nam  Mạch Công Thành, vợ Nguyễn thị Kim Thu và các con cháu  
Thứ Nam Mạch Công Danh, vợ Nguyễn thị Ngọc Hằng và con  
Thứ Nam Mạch Công Tài, vợ Nguyễn thị Yên Chi và các con  
Thứ Nữ   Mạch Holly Hồng và các con cháu  
Thứ Nam Mạch Công Hạnh, vợ Hồ Thúy Hằng và con  
Cháu Đích tôn    Mạch Tiến Đạt                       
Cáo Phó này thay thế Thiệp Tang  
Xin Miễn Phúng Điếu

Thursday, June 24, 2021

Sơ Lược Tiểu Sử Binh Nghiệp Đại Tướng Trần Thiện Khiêm

Tháng 9/19 69 đến tháng 04/1975 Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng VNCH.
Năm 1969? đến tháng 09/1969 Phó Thủ Tướng
Tháng 05/1968 đến năm 1969 Tổng Trưởng Nội Vụ.
Tháng 10/1965 đến tháng 05/1968 Đại Sứ VNCH tại Đài Bắc.
Tháng 10/19 64 đến tháng 10/1965 Đại Sứ VNCH tại Hoa Kỳ.
Tháng 07/1964 Thăng Đại Tướng.
Tháng 01/1964 đến tháng 09/1964 TTQP kiêm TTMT QLVNCH.
Tháng 12/1963 đến tháng 01/1964 Tư Lệnh Quân Đoàn 3.
Tháng 11/1963 Thăng Trung Tướng.
Tháng 12/1962 Thăng Thiếu Tướng.
Tháng 12/1962 đến tháng 11/1963 Tham Mưu Trưởng Liên Quân.
Tháng 02/1960 đến tháng 12/1962 Tư Lệnh SĐ21BB kiêm TL QK5.
Năm 1958 đến tháng 02/1960 Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Dã Chiến.
Năm 1957 đến năm 1958 Tu nghiệp khóa CH&TM cao cấp tại Hoa Kỳ.
Tháng 08/1957 Đại Tá Xử Lý thường vụ Tham Mưu Trưởng BTTM.
Tháng 07/1954 Thiếu Tá rồi Trung Tá TM Phó Tiếp Vận BTTM.
Tháng 07/1948 Thiếu Úy SQ tập sự Vệ Binh Nam Phần.
Năm 1946 đến năm 1947 Chuẩn Uý HSQ cao cấp Viễn Đông (Đập Đá)

Nhan Hữu Hiệp

 Đại Tướng Trần Thiện Khiêm. (https://en.wikipedia.org)

GARDEN GROVE (VB) – Cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đã qua đời vào ngày 24 tháng 6 năm 2021 tại Miền Nam California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 95 tuổi, theo thông báo của Cựu Đại Tá Vũ Văn Lộc tức nhà báo Giao Chỉ tại San Jose cho biết hôm Thứ Năm, 24 tháng 6 năm 2021.
Nhà báo Giao Chỉ cho biết thêm rằng, “Tại miền Bắc California sẽ có nhiều thân hữu xuống dự đám tang. Sẽ có lễ tưởng niệm tổ chức 1 tuần lễ sau tại San Jose.”
Theo tài liệu được đăng trên trang mạng https://www.wikiwand.com, Trần Thiện Khiêm (sinh năm 1925) nguyên là một tướng lĩnh Bộ Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cấp bậc Đại Tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên ở Trường Võ Bị Liên Quân Viễn Đông do Quân đội Pháp mở ra tại Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam.
Mặc dù chuyên môn quân sự của ông là Bộ Binh, nhưng khi còn là sĩ quan trung cấp, ông ít phải chỉ huy đơn vị tác chiến mà được cử giữ những chức vụ liên quan đến lãnh vực Tham Mưu. Sau lên đến sĩ quan cao cấp, ông được cử chỉ huy đơn vị cấp Sư Đoàn một thời gian ngắn.
Ông từng là tướng lĩnh giữ vai trò quan trọng trong các cuộc Đảo chính Quân sự tại Việt Nam Cộng Hòa trong những năm 1963-1964. Sau đó ông được đảm trách những chức vụ cao trong Quân đội như: Tư Lệnh Quân Đoàn, Tham Mưu Trưởng rồi Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu.
Là một trong số ít sĩ quan được thăng cấp tướng ở thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa (Thiếu Tướng năm 1962) và là một trong 5 sĩ quan được phong cấp Đại Tướng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông còn là một chính khách và là người giữ chức vụ đứng đầu Bộ Quốc Phòng và Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa trong thời gian lâu nhất.
Hiện tại, ông là tướng lĩnh cao cấp nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn sống và cũng là tướng lĩnh có tuổi thọ cao thứ hai sau Đề Đốc Trần Văn Chơn.
Cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đã cùng với cựu Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu rời khỏi Việt Nam vào chiều tối ngày 25 tháng 4 năm 1975 để đến Đài Loan. Sau đó ông đã được định cư tại tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.
*
Xem thêm tiểu sử của Trần Thiện Khiêm trong link Wikipedia sau đây:
Nhiều người nghe tin Đại tướng Trần Thiện Khiêm qua đời mới nhớ đến ông, biết ông đã sống thọ gần 100 tuổi. Cả đời ông sống đã kín đáo như vậy, mặc dù đã giữ nhiều chức vụ lãnh đạo ở miền Nam Việt Nam, từ 1963 đến 1975. Có lúc ông ngồi trong “Tam Đầu Chế” (troika) nắm quyền cao nhất nước, gồm Nguyễn Khánh, Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm. Sau lại làm thủ tướng với ông Nguyễn Văn Thiệu một thời gian rất dài. Sau 1975 ông Trần Thiện Khiêm cũng sống bình lặng, chỉ thấy ông xuất hiện một lần năm 2013, đi với Đề đốc Trần Văn Chơn và Tướng Nguyễn Khắc Bình thăm Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa ở San Jose.
 
Tình cờ tôi mới đọc mấy câu chuyện về Đại tướng Trần Thiện Khiêm trong một cuốn sách mới xuất bản viết về Việt Nam Cộng Hòa của George J. Veith, do bạn Trịnh Bình An gửi tặng. Đây là một cuốn sách ra rất trễ, nhưng có nhiều chuyện chưa ai kể về thời Đệ Nhị Cộng Hòa .
 
Chẳng hạn, về Đại tướng Trần Thiện Khiêm, George Veith cho biết ông Khiêm đã từng vào bưng theo “kháng chiến” năm 1947, với ba người bạn cùng tốt nghiệp trường huấn luyện quân sự của Pháp ở Đà Lạt. Chỉ bốn tháng sau, biết rõ Việt Minh là cộng sản, ông đã bỏ về. Ông Nguyễn Khánh đi kháng chiến lâu hơn, một năm mới từ giã cộng sản. Ông Nguyễn Văn Thiệu trải qua kinh nghiệm như ông Khiêm. George Veith kể rằng tay cán bộ cộng sản tiếp đón những nhóm Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm khi họ vào bưng, là Phạm Ngọc Thảo, một trùm gián điệp cộng sản. Theo lời Võ Văn Kiệt, năm 1954 chính Lê Duẩn ra lệnh Phạm Ngọc Thảo ở lại nằm vùng. Thảo về thành, bám áo Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục để tìm đường leo lên; từ năm 1963 đã xúi dục mấy vụ đảo chính để gây rối loạn.
 
George Veith mới xuất bản cuốn “ Drawn Swords in a Distant Land” cung cấp nhiều chuyện hậu trường thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Ông đã in cuốn “Tháng Tư Đen” về những ngày cuối cùng cùa chiến tranh Việt Nam, sau hai cuốn viết về việc tìm kiếm binh sĩ Mỹ mất tích. Phải là một người “không sợ súng,” mới viết thêm một cuốn sách về đề tài “quá cũ” đó.
George Veith không có “nợ nần” gì với Việt Nam; khi đến tuổi “quân dịch” thì cuộc chiến đã chấm dứt. Có máu một nhà báo hơn là một sử gia, Veith đã phỏng vấn rất nhiều “người trong cuộc” ngoài những tài liệu trong sách vở. Và anh thận trọng như một nhà báo; mỗi khi nói điều gì do một người tiết lộ thì anh đi hỏi người khác về cùng câu chuyện đó. Cũng nhờ dựa vào các cuộc phỏng vấn cá nhân, Veith cho người đọc nhìn lại thời Việt Nam Cộng Hòa với các chi tiết từ đó các nhân vật nổi tiếng hiện ra như những “con người thật,” không phải chỉ là các “ông tướng” hay “nhà chính trị.” Các biến cố được kể lại cũng phức tạp hơn, nhiều mâu thuẫn tế nhị hơn, không phải chỉ có bên trắng bên đen như các người trong cuộc viết hồi ký thuật chuyện về mình.
 
Trong phần Danh Mục (Index) ở cuối sách, sau hai tên Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, tên Đại tướng Trần Thiện Khiêm được nhắc tới nhiều nhất.
 
Mặc dù Trần Thiện Khiêm không ủng hộ ông Ngô Đình Diệm trong cuộc tranh chấp với Nguyễn Văn Hinh, ông được thăng cấp rất nhanh từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Sau cuộc đảo chính hụt 1960 ông Khiêm cũng như ông Thiệu đều bị điều tra. Ông Khiêm được ông Huỳnh Văn Lang, một người góp phần sáng lập đảng Cần Lao, bảo đảm, để đưa ông vào đảng. Nhưng ông không cải đạo theo Thiên Chúa Giáo, mãi đến năm 2018 ông mới rửa tội, lấy tên thánh Phao Lô. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thì khác, năm 1951 ông đã cưới một cô theo Công Giáo, sau một năm “tranh đấu” để được thân sinh cho phép cải đạo. Nhưng ông không rửa tội; cũng không gia nhập đảng Cần Lao. Năm 1955 ông Thiệu mất các chức vụ chỉ huy, đưa lên “ngồi chơi xơi nước” coi trường Võ Bị Đà Lạt. Ba năm sau ông mới chịu rửa tội, do Linh mục Bửu Dưỡng, một lý thuyết gia của chủ nghĩa Nhân Vị Thiên Chúa Giáo. Có lẽ nhờ thế nên ông Thiệu được trở lại chỉ huy các đơn vị có quân sĩ, chuyển ngôi trường Võ Bị cho Lê Văn Kim, một ông tướng “gốc Tây” bị ông Diệm nghi ngờ.
 
George Veith kể một chuyện “hậu trường” về quan hệ giữa hai ông Lê Văn Kim và Ngô Đình Nhu, liên can đến nhiều gia đình nổi tiếng. Ông Kim lấy em gái Tướng Trần Văn Đôn, có lúc ở Đà Lạt trong ngôi biệt thự của song thân Tướng Đôn. Hai cụ lại quen thân với Luật sư Trần Văn Chương, mà cô con gái Trần Lệ Xuân lấy ông Ngô Đình Nhu năm 1943. Vì chỗ quen biết đó, vợ chồng ông Nhu đã có lần tạm trú ở nhà ông Lê Văn Kim trên Đà Lạt, trong cuốn sách có hình chụp cả hai gia đình năm 1947.
 
Năm 1960, nhóm đảo chính hụt công bố danh sách một chính quyền lâm thời, để tên ông Lê Văn Kim làm chức thủ tướng. Chắc vì ông Vương Văn Đông, người chủ mưu, quen ông Kim khi cùng đi Mỹ dự một khóa học tham mưu năm 1958. Sau cuộc đảo chính bất thành, ông Diệm sai Tướng Tôn Thất Đính lên Đà Lạt bắt Lê Văn Kim. Ông Kim lo sẽ bị giết, xin về nhà lấy quần áo, nhân đó gọi điện thoại cho ông Ngô Đình Nhu; phân trần mình không biết gì đến âm mưu phản loạn! Ông Nhu siêu lòng, cho một chiếc máy bay lên đón ông Kim về Sài Gòn.
 
Ông Nhu cho ông Kim làm phụ tá cho Tướng Dương Văn Minh, lúc đó đang giữ một chức vụ “ngồi chơi xơi nước” ở Bộ Tổng Tham Mưu. Ông Kim không có việc gì làm, hay đi thăm người anh vợ là Tướng Trần Văn Đôn, chỉ huy vùng I Chiến thuật. Kim thường rủ Dương Văn Minh cùng đi Huế. Ba người này, sau là nhóm tổ chức cuộc đảo chính năm 1963, hai ông Diệm, Nhu bị giết.
 
Nhưng vào tháng Mười năm 1963, ba ông tướng này không thể điều động các đơn vị quân đội mà qua mặt Chánh văn phòng Bộ Tổng Tham Mưu, lúc đó là Tướng Trần Thiện Khiêm. Dương Văn Minh đi thăm dò ông Khiêm; lúc đó mới biết Khiêm cũng đang bàn chuyện đảo chánh với Nguyễn Khánh! Năm 1960, Tướng Khánh là người đã “leo hàng rào” vào Dinh Độc Lập, rồi từ trong đó điện thoại cho các đơn vị vùng IV kêu họ về giải vây cho ông Diệm.
 
Những câu chuyện nho nhỏ trên cũng đáng đem ra kể cho mọi người biết thêm về hậu trường chính trị Việt Nam Cộng Hòa. George Veith đã phỏng vấn bao nhiêu người để cung cấp các chi tiết tỉ mẩn đó. Có lẽ nhiều năm sau khi tấn kịch đã hạ màn, các tình tự yêu ghét đã nguội bớt, những người được phỏng vấn cũng khách quan hơn. George Veith xin phỏng vấn bà Nguyễn Văn Thiệu không được, nhờ cựu bộ trưởng Cao Văn Thân năn nỉ giúp và đứng ra làm thông dịch. Ông Trần Thiện Khiêm cũng từ chối không cho George Veith phỏng vấn. Tác giả phải nhờ Luật sư Cao Lan, con Đại tướng Cao Văn Viên, đóng vai “con cháu trong nhà” đến hỏi chuyện bác Khiêm.
 
Ông Khiêm không thích chơi với các nhà báo! Trước sau năm 1975 ông luôn “thủ khẩu như bình,” Bây giờ chúng ta còn nhớ trước năm 1975 dân chúng miền Nam đã xuống đường nhiều lần, phản đối từ ông Diệm, ông Nhu, cho tới ông Minh, ông Khánh, ông Thiệu, ông Kỳ; nhưng hầu như chưa ai tổ chức biểu tình chống Trần Thiện Khiêm cả!
 
Có lẽ vì ông Khiêm bao giờ cũng chấp nhận đứng hàng thứ hai, thứ ba, không đứng đầu. Ông Nguyễn Cao Kỳ, khi đóng vai một thủ tướng, vẫn muốn mình nổi nhất trong nhóm tướng lãnh, phải chứng tỏ mình là người đóng vai quyết định, phải được báo chí nhắc tên luôn luôn. Ông Trần Thiện Khiêm thì ngược lại. Làm thủ tướng nhưng luôn luôn lánh mặt, nhường ông Thiệu đóng vai chính. Ông để các vị bộ trưởng họp báo, ra trước quốc hội và công chúng để “lãnh đạn.” Ông Hoàng Đức Nhã, người mà George Veith mô tả là đối nghịch nặng nề với ông Trần Thiện Khiêm, cho biết ông Khiêm công nhận rằng mình chỉ là “kẻ thừa hành.” Nhưng ông Nhã, phụ tá thân cận của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cũng nhận xét rằng chưa thấy ai “lẩn” giỏi như ông Khiêm.
 
Đáng lẽ không nên viết nhiều về Đại tướng Trần Thiện Khiêm như vầy, biết ông không thích người khác nói đến mình. Xin ông tha lỗi, và cầu nguyện ông về nơi an lành vĩnh cửu.
Ngô Nhân Dụng
 

——————————-
Trần Thiện Khiêm (chữ Hán: 陳善謙; sinh 1925) là một trong 5 quân nhân thụ phong cấp bậc Đại tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa, từng là tướng lĩnh giữ vai trò quan trọng trong các cuộc đảo chính quân sự tại Việt Nam Cộng hòa trong những năm 1963-1964. Ông cũng là một chính khách và là người từng giữ chức vụ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa trong thời gian lâu nhất: 6 năm.
Ông sinh ngày 15 tháng 12 năm 1925 tại Châu Thành, Long An, trong một gia đình đại điền chủ giàu có. Do điều kiện gia đình, ông có một nền học vấn cơ bản tốt, đã tốt nghiệp trung học phổ thông chương trình Pháp với văn bằng Tú tài.

Năm 1945, ông tham gia phong trào Việt Minh. Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông cùng các bạn hữu rút vào chiến khu 8, chiến đấu dưới quyền khu trưởng Trần Văn Trà một thời gian ngắn, sau đó lại trở về thành.
Năm 1946, ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp. Do có trình độ Tú tài, ông được cho theo học khoá 1 Trường Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt (còn gọi là khoá Nguyễn Văn Thinh). Thời gian theo học tại đây, ông có quan hệ thân tình với một số học viên trẻ khác như Nguyễn Khánh, Lâm Văn Phát và Trần Đình Lan.

Giữa năm 1947, ông tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy và tiếp tục trong Quân đội Liên hiệp Pháp tại các đơn vị người bản xứ. Tháng 7 năm 1948, ông là sĩ quan tập sự trong lực lượng Vệ binh Nam Phần, phục vụ Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 3 Việt Nam và đầu tháng 8 ông được thăng cấp Thiếu úy.
Năm 1950, ông được chuyển ngạch sang Quân đội Quốc gia Việt Nam và được thăng cấp Trung úy, được điều làm chỉ huy một đơn vị đồn trú tại Mông Thọ, Rạch Giá. Năm 1952, thăng Đại úy, điều đi Tiểu khu Hưng Yên làm Trưởng ban 3 của Liên đoàn Lưu động số 2 đồn trú tại Ninh Giang. Tại đây ông kết thân với 2 sĩ quan người Việt là Trung úy Nguyễn Văn Thiệu và Trung úy Cao Văn Viên. Bộ 3 này về sau là những người có thế lực nhất trong nền Đệ nhị Cộng hòa.

Tháng 9 năm 1953, ông được chuyển sang phục vụ tại Liên đoàn Lưu động số 3 đồn trú tại Ninh Bình do Thiếu tá Phạm Văn Đổng làm Chỉ huy trưởng. Tháng 7 năm 1954, ông làm Trưởng phòng 3 Đệ nhị Quân khu, đến cuối năm thì được thăng cấp Thiếu tá, Tham mưu trưởng Đệ nhị Quân khu. Tháng 8 năm 1955, ông được thăng Trung tá giữ chức vụ Tham mưu Phó Tiếp vận Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam.
Do có công ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, tháng 8 năm 1957 ông được thăng cấp Đại tá giữ chức Xử lý thường vụ Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu. Sau đó ông được cử đi tu nghiệp khóa Chỉ huy và Tham mưu cao cấp tại Học viện Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ.

Sau khi về nước năm 1958, ông được cử làm Tư lệnh Sư đoàn 4 Dã chiến (sau đó được cải danh thành Sư đoàn 7 Bộ binh). Tháng 2 năm 1960, được chuyển sang làm Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh kiêm Tư lệnh Quân khu 4, phụ trách vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Khi cuộc đảo chính quân sự 1960 nổ ra, ông chỉ huy Sư đoàn kéo về Sài Gòn để giải vây cho Tổng thống Ngô Đình Diệm. Do hành động giải vây trên, ông rất được Tổng thống Diệm tín nhiệm. Tháng 12, ông được thăng cấp Thiếu tướng và giữ chức Tham mưu trưởng Liên quân, thay cho người tiền nhiệm là tướng Nguyễn Khánh vừa được điều vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II.

Giữa năm 1963, Tổng tham mưu trưởng Đại tướng Lê Văn Tỵ sang Hoa Kỳ chữa bệnh. Ông được chỉ định kiêm Xử lý thường vụ Tổng tham mưu trưởng cho đến tháng 8 thì Trung tướng Trần Văn Đôn mới được chỉ định làm quyền Tổng tham mưu trưởng.
Tuy vậy, tướng Khiêm lại là một trong những tướng lĩnh chủ chốt tham gia cuộc Đảo chính. Với cương vị Tham mưu trưởng Liên quân, tướng Khiêm được cho là có những động thái tích cực để vạch kế hoạch và điều động các đơn vị tham gia đảo chính vào Sài Gòn cũng như cách ly các đơn vị trung thành với tổng thống Diệm. Sau cuộc đảo chính, ông được thăng Trung tướng kiêm chức Ủy viên Quân sự trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng do Trung tướng Dương Văn Minh làm Chủ tịch.

Đầu năm 1964, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III, kiêm Tổng trấn Sài Gòn thay cho tướng Tôn Thất Đính. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, ông cùng với người bạn cũ là tướng Nguyễn Khánh đã thực hiện cuộc “chỉnh lý” chớp nhoáng, cướp quyền của Hội đồng Quân nhân Cách mạng, đưa tướng Khánh lên nắm quyền tối cao. Để trả công, ông được tướng Khánh giao giữ chức Tổng trưởng Quốc phòng, kiêm Tổng Tư lệnh Quân lực. Ngày 11 tháng 8, ông được thăng cấp Đại tướng và trở thành người thứ 2 sau tướng Lê Văn Tỵ thụ phong hàm Đại tướng của Việt Nam Cộng hòa.

Nhằm dung hòa mâu thuẫn giữa các tướng lĩnh, giải pháp “Tam đầu chế” ra đời. Trong một thời gian ngắn, từ 27 tháng 8 đến 8 tháng 9, ông tham gia Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia cùng với 2 tướng Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh.
Thắng làm vua, thua làm đại sứ

Tuy nhiên, mâu thuẫn quyền lực đã nảy sinh với ông bạn cũ Nguyễn Khánh. Để bảo đảm quyền lực tuyệt đối, tướng Khánh khó mà chấp nhận người bạn đã nhiều lần tổ chức đảo chính và đã đưa mình lên vị trí quyền lực. Cho rằng tướng Khiêm đứng đằng sau cuộc binh biến của tướng Dương Văn Đức ngày 13 tháng 9 năm 1964, ngày 24 tháng 10 năm 1964, ông bị tướng Khánh tước mọi chức vụ và được “cử” làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ, thực chất là một hình thức đẩy đi lưu vong ở nước ngoài.

Sau khi nhóm các tướng trẻ do tướng Nguyễn Cao Kỳ và một người bạn cũ của tướng Khiêm là tướng Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu, đã buộc tướng Khánh phải rời khỏi chức vụ để “làm” đại sứ lưu động, tướng Khiêm đã có hy vọng trở về. Tuy nhiên, tháng 19-1965, nhóm tướng Kỳ một lần nữa lại đẩy ông làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc).
Trở về nắm quyền
Mãi đến năm 1967, Nguyễn Văn Thiệu sau khi đã ngồi chắc vào chiếc ghế Tổng thống, đã dùng nhiều biện pháp để loại trừ vây cánh của tướng Nguyễn Cao Kỳ (lúc đó đã là Phó tổng thống), tháng 5 năm 1968, ông mới được triệu hồi về nước và được giao chức vụ Tổng trưởng Nội vụ trong chính phủ Trần Văn Hương. Đầu năm 1969, ông được cử làm Phó Thủ tướng. Tháng 8 năm 1969, ông được Tổng thống Thiệu chỉ định làm Thủ tướng và lập chính phủ mới. Khi tướng Nguyễn Văn Vỹ bị cách chức Tổng trưởng Quốc phòng năm 1972, ông kiêm nhiệm luôn chức vụ này cho đến tận tháng 4 năm 1975.
Lưu vong lần thứ hai

TTK

Tháng 3 năm 1975, sau khi VC đã kiểm soát được hầu hết miền Trung và Cao nguyên, trước áp lực của Hoa Kỳ đòi hỏi phải có một cuộc cải tổ sâu rộng thành phần chính phủ để ổn định nội tình Miền Nam và có đủ sức mạnh để đối thoại với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã yêu cầu ông từ chức để mời Nguyễn Bá Cẩn thành lập chính phủ mới. Ngày 5 tháng 4 năm 1975, ông chính thức từ chức rời khỏi chức vụ. Ngày 21 tháng 4, đến lượt tổng thống Thiệu cũng từ chức, giao quyền Tổng thống cho phó Tổng thống Trần Văn Hương. Đêm ngày 24 tháng 4, ông cùng với cựu Tổng thống Thiệu rời khỏi Việt Nam sang Đài Loan. Sau đó qua định cư tại Hoa Kỳ.

Những giờ phút cuối cùng của ông tại Việt Nam được cựu điệp viên CIA Frank Snepp ghi lại trong quyển “Decent Interval” như sau:

Khoảng 5giờ chiều 25 tháng 4 năm 1975, Polgar gọi tôi, Joe Kingsley, tướng Timmes và một nhân viên khác của sở đến văn phòng: “Các anh có thể tìm đường quanh Sài Gòn ban đêm?…”. “Tốt”. “Vì tôi muốn các anh giúp tôi đưa Thiệu và Thủ tướng Khiêm đi Đài Loan tối nay”. Đại sứ Martin sau này thú nhận với tôi là ông đã tiếc vì đã nhờ Polgar Giám đốc CIA ở Việt Nam, thay vì nhờ cơ quan DAO và than phiền Polgar đã không làm được việc giao phó cho đúng. “Tôi đã yêu cầu ông ấy đánh máy hồ sơ cần thiết cho Thiệu và đem theo với ông ấy khi các anh vào Tân Sơn Nhất. Nhưng ông ấy không làm được. Ông ấy quên giấy. Ông ấy bảo là không tìm thấy bàn đánh máy chữ”. Kết quả là Thiệu rời khỏi xứ trên máy bay Mỹ mà không có giấy tờ chấp thuận của Việt Nam hay phía Mỹ.

Timmes, hai nhân viên khác và tôi lấy ba chiếc Limousine từ nhà xe của cơ quan CIA khoảng 8giờ 30 tối và lái xe đến Bộ Tư lệnh Quân đội miền Nam ngoài Tân Sơn Nhất nơi Khiêm cư ngụ…

Ngay sau 9 giờ tối, Polgar đến nhà Khiêm với xe riêng và tài xế. Trong khi ông ta uống rượu với Khiêm và Timmes trong nhà, tất cả chúng tôi ra ngoài sân nghỉ chân….
”Sau khi sang Mỹ, ông cùng gia đình định cư tại Virginia, rồi chuyển sang Houston, Texas.
Gia đình

Ông có 3 người anh trai:

Trần Thiện Khởi, cựu Tổng giám đốc Quan thuế Việt Nam Cộng hòa
Trần Thiện Phương, cựu Giám đốc Thương cảng Gài Gòn
Trần Thiện Ngươn, Đại tá Việt Nam Cộng hòa
Phu nhân: Bà Đinh Thùy Yến (1934-2004), còn gọi là Tư Nết, tên Pháp là Annette, con gái một đại điền chủ vùng Rạch Giá. Về sau bà từng trúng cử Dân biểu Quốc hội Việt Nam Cộng hòa (1959-1963). 


Trần Hiếu

“Lạy Chúa, dù qua thung lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.” TV 23:4

Từ khi lãnh nhận bí tích Rửa tội để trở thành con cái Chúa cách đây hơn một năm, ông Trần Thiện Khiêm, nguyên Thủ tướng VNCH, 94 tuổi, bây giờ trở nên khác trước. Ông nói, cảm nghiệm “Thiên Chúa ở cùng” làm ông luôn cảm thấy an tâm, thư thái và vui vẻ.

Dù đã an dưỡng tuổi già từ lâu, ông vẫn hay cảm thấy căng thẳng, tâm hồn nặng trĩu những lo lắng, ưu tư. Anh Bá, người cháu gọi ông bằng chú, nói rằng từ khi theo đạo, ông vui vẻ hẳn lên, điều gì ông cũng nói “Chúa sẽ lo liệu”.

Mỗi sáng sớm ông bắt đầu một ngày với làm dấu thánh giá và đọc những câu kinh quen, kinh Lạy Cha, kinh về Đức Mẹ, và suy niệm. Mỗi tối ông cũng làm như vậy. Vào mỗi Chúa Nhật, vì sức khỏe kém không thể đến nhà thờ, ông dự lễ qua màn ảnh Tivi.

Ông nói, “Đức tin tôi còn yếu kém, nhưng tôi cảm nhận được Thiên Chúa thứ tha, được Ngài gánh mọi tội lỗi của mình, được Ngài thương cứu mình, và không để mình hư mất”. Với tư tưởng Thiên Chúa hiện diện nơi mình, ông sẵn sàng để Chúa dẫn dắt và quên đi chính mình: “Khi thấy Chúa vì mình mà khổ đau, tôi cũng học chấp nhận những hiểu lầm và tổn thương nên cảm thấy nhẹ lòng.”

Đầu năm 2018, khi đang nằm điều trị tại dưỡng đường Mission De La Casa, San Jose, của Bác sĩ Ngãi, do bị gãy xương chân, ông Khiêm hỏi chị Mai, một người thân quen giúp chăm sóc ông, “Chị có biết ông linh mục nào ở gần đây không, tôi muốn gặp?” Lúc ấy, thấy cha Justin Lê Trung Tướng đang viếng thăm cụ thân sinh của cha dưỡng bệnh ở phòng bên cạnh, chị Mai liền mời đến gặp ông Khiêm.

Khi ông Khiêm ngỏ lời muốn theo đạo, cha chỉ hỏi ông một số điều cần tin trong kinh Tin Kính, rồi sắp xếp lễ rửa tội cho ông. Thông thường, một người muốn theo đạo cần được hướng dẫn giáo lý một thời gian, nhưng với ông Khiêm, đức tin dường như đã có đó, nên cha thấy không cần phải qua các thủ tục thông thường.

Trong bài giảng lễ, cha nói, “Bản thân cụ khi chưa là tín hữu Công Giáo đã xác tín mình là con Chúa. Bây giờ, trở nên tín hữu là dịp để tạ ơn Chúa. Cụ xác tín Chúa yêu thương và sắp xếp mọi việc tốt đẹp theo thánh ý Ngài… Được rửa tội là được sinh ra trong ơn nghĩa Chúa hôm nay và mãi mãi. Chọn Chúa là xin Chúa dẫn đến quê trời với sự sống đời đời.”

Ông Khiêm sinh ngày 15/12/1925 tại Châu Thành, Long An. Với phép rửa tội, ngày 25/3/2018 là ngày sinh nhật mới của ông, được sinh ra trong đức tin. Ông nói, ông theo đạo là do ý muốn của mình, không có gì ràng buộc hoặc ai thúc ép gì cả.

Ông kể, lúc còn niên thiếu 9, 10 tuổi, sống ở xóm gần nhà thờ Huyện Sĩ, Sài Gòn, ông sinh hoạt với các bạn cùng trang lứa trong đoàn Hùng Tâm Dũng Chí, rồi được học trường đạo nên hiểu biết ít nhiều câu kinh và lẽ đạo. Khi ở trong quân đội, nhiều bạn Mỹ vẫn hay gọi ông là “Catholic Khiêm.” Ông chẳng đính chính, “vì thấy mình cũng như là người có đạo, mặc dầu chưa được rửa tội.”

Trong gia đình dòng tộc của ông đã có nhiều người theo đạo, gồm cả cô em gái, những đứa cháu, người anh em họ là cụ Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Thượng Viện VNCH… Nhưng khi ông muốn chính thức là tín hữu Công Giáo, con đường dẫn đến đức tin cũng không khỏi gập ghềnh.

Cách đây năm năm, qua sự sắp xếp của Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình và vài người bạn trong Phong trào Cursillo Việt Nam tại San Jose, ông đã gặp và trò chuyện lâu giờ với Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, một người ông có mối đồng cảm sâu đậm. Cuộc gặp gỡ nhằm trao đổi nhiều vấn đề, và họ không quên nói đến vấn đề tâm linh. Sau cuộc gặp tại San Jose nầy, ý định chịu phép rửa tội càng thôi thúc ông. Từ đó, các bạn chuẩn bị các bước cho ông vào đạo, và ông ước mong được dịp Đức Cha Hợp ban phép rửa tội cho.

Nhưng điều ông mong muốn đã không xảy ra. Khi trở về nhà tại San Diego, ông đã bị té và việc học đạo để lãnh nhận bí tích bị gián đoạn. Những ngày đầu năm dương lịch 2018, sau khi sức khỏe được phục hồi, ông lại lên San Jose gặp gỡ bạn bè và tham dự một buổi tiệc của đồng hương Miền Nam. Sau buổi tiệc, ông lại bị té, và phải vào bệnh viện để chữa trị. Sau khi vết thương thuyên giảm, ông được đưa vào tĩnh dưỡng ở dưỡng đường. Ông nói, lúc nầy cảm thấy buồn, cô đơn và cũng là lúc mà tia sáng đức tin hiện đến, tâm hồn ước mong vươn ra xa cái hạn hẹn của cuộc sống hằng ngày.

Khi chọn tên thánh rửa tội, ông phân vân giữa Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, một người chối Chúa, một người bách hại đạo Chúa, nhưng cả hai đều thay đổi, trở nên những môn đệ mến Chúa hết lòng.  Cuối cùng, ông chọn tên thánh Phaolô, một người đã té ngã và được Chúa cho trỗi dậy.

Hồi tưởng lại quá khứ, ông nói, người ảnh hưởng sâu xa trong việc theo đạo của ông là là Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Khi lưu vong, ông được Tổng Thống Thiệu mời về nước, và người hay tới thăm và an ủi nhiều là Đức Cha Thuận. Chính thái độ và tấm lòng bao dung của Đức Cha đã làm ông hết sức cảm động và nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa hiện diện.

Theo đạo, ông cảm thấy mình không hết khó khăn và thử thách, nhưng không thấy cô đơn. Ngoài việc đọc kinh mỗi ngày, ông còn đọc Thánh Kinh, nghe nhạc đạo, theo dõi các diễn biến thời sự, trò chuyện với bạn bè.  Ông còn quen thêm các bạn mới trong đạo. Gặp gỡ bạn bè giúp ông tìm thấy niềm vui mỗi ngày.

Ông nói, “Thật cảm động, sau khi tôi theo đạo vài tháng, Đức Cha Hợp sang Hoa Kỳ thăm tôi. Tôi cũng có dịp gặp lại cha Tướng, người đã ban phép rửa tội cho tôi, các cha và nhiều người bạn ở San Jose”. Với ân sủng đức tin, ông thấy không còn ước ao gì nữa, chỉ mong đến ngày được về với Chúa trong an bình.

Trong nhiều bản thánh ca ưa thích, ông thích nhất bài “Năm xưa trên cây sồi”, là bài ông nghe mỗi ngày, vì bài ca phản ảnh tâm tư của ông. Bài ca cũng nguyện cầu cho đất nước và dân tộc mà ông hằng yêu mến, “Mẹ Maria ơi, Mẹ Maria ôi, con vâng nghe Mẹ rồi, sớm chiều từ nay thống hối; Mẹ Maria ơi, Mẹ Maria ôi, xin Mẹ đoái thương nhậm lời, cho nước Việt xinh tươi, đức tin sáng ngời…”

*Trần Hiếu, giáo dân Giáo xứ Việt Nam Đức Mẹ La Vang, tốt nghiệp Học Viện Lãnh Đạo Mục Vụ, Giáo Phận San Jose, khóa năm 2001. 






Friday, February 26, 2021

Chuẩn Tướng Lê Văn Tư hình ảnh và tang lễ

Tướng Lê Văn Tư và 8 người con, người thứ chín không có trong hình









Người con thứ 7 của Tướng Lê Văn Tư 



Cháu của Tướng Lê Văn Tư là Sĩ Quan trong Quân Lực Hoa Kỳ 









































CÁO-PHÓ

Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin cùng thân bằng quyến thuộc và quí bằng hữu xa gần, Chồng, Cha, Ông của chúng tôi: 

Ông Maximilian Kolbe Lê Văn Tư

Cựu Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB/QLVNCH 

Đã từ trần ngày 1 tháng 2 năm 2021 tại Fountain Valley, California.

Hưởng thọ 90 tuổi.

Thánh lễ an táng sẽ được cử hành lúc 9 giờ sáng ngày 26 tháng 02 năm 2021 tại nhà thờ: Blessed Sacrament Church 14072 Olive Street Westminster, CA 92683 (714) 892-4489 

Thăm viếng từ 11:30 sáng đến 6:30 chiều ngày 26 tháng 02 năm 2021

tại: Peek Funeral Home 7801 Bolsa Ave. Westminster, CA 92683 

714-893-3525

Tang Gia đồng khấp báo

Vợ: Bà Lê Văn Tư nhũ danh Võ Thị Xương. 

Trưởng Nữ: Lê-Nguyễn Thị Thu-Nga, chồng Nguyễn Phước Thành cùng các con. 

Trưởng Nam: Lê Văn Quận, vợ Nguyễn Diễm cùng các con. 

Thứ Nữ: Lê Thị Thu-Loan, chồng Trần Văn Tấn cùng các con.  

Thứ Nam: Lê Văn Dinh.

Thứ Nữ: Lê Thị Thu-Tâm, chồng Lê Hoàng Linh cùng các con. 

Thứ Nam: Lê Văn Trí, vợ Dana Trang Nguyễn cùng các con. 

Thứ Nam: Lê Văn Hoàng, vợ Lê Thị Nhung cùng các con. 

Cáo phó này thay thế thiệp tang. 

Xin miển phúng điếu.

Điện thoại tang gia: 

(714)454-2753, (951)544-0997                     

Chuẩn Tướng Lê Văn Tư (1931), nguyên là một tướng lĩnh gốc Nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Võ bị Quốc gia do Chính phủ Quốc gia Việt Nam thành lập với sự hỗ trợ của Quân đội Pháp nhằm mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ cho Quân đội Liên hiệp Pháp. Ra trường ông gia nhập đơn vụ Nhảy dù nhưng chỉ phục vụ Binh chủng này một thời gian ngắn, sau chuyển qua đơn vị Bộ binh.

Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 29 tháng 9 năm 1931, là con thứ 4 trong một gia đình trung nông khá giả[2] tại làng Điều Hòa, Thuận Trị, tỉnh Mỹ Tho.[3] Ông học Tiểu và Trung học chương trình Pháp tại Mỹ Tho. Tốt nghiệp với văn bằng Thành chung. Sau đó từ năm 1947 đến năm 1949 ông theo học trường Y tá Đông Dương tại Bênh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Ra trường, về tùng sự tại Tòa Đô sảnh Sài Gòn. Sau chuyển về nguyên quán, phục vụ tại Bệnh viện Mỹ Tho.

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Cuối tháng 6 năm 1951, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 51/121.317. Theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951. Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, tình nguyện vào đơn vị Nhảy dù của Quân đội Liên hiệp Pháp phục vụ tại Tiểu đoàn 1 với chức vụ Trung đội trưởng. Giữa năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy chuyển sang Tiểu đoàn 3 Nhảy dù giữ chức vụ Đại đội phó.

Tháng 8 năm 1954, sau Hiệp định Genève (ngày 20 tháng 7), ông rời Binh chủng Nhảy dù. Chuyển nhiệm vụ sang Quân trường Huấn luyện Bộ binh, ông được cử giữ chức Thanh tra Quân huấn Trung tâm Huấn luyện số 1 Quán Tre[4] do Trung tá Trần Tử Oai làm Chỉ huy trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Giữa Năm 1956, sau hơn nửa năm từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ cơ cấu quân đội mới của Đệ nhất Cộng hòa là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được cử làm Đại đội trưởng Đại đội Chỉ huy Công vụ của Trung đoàn 32 do Thiếu tá Đỗ Kiến Nhiễu làm Trung đoàn trưởng, đồn trú tại Cái Vồn thuộc Sư đoàn 11 khinh chiến.[5] Đến tháng 7 năm 1957, chuyển qua giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 13 cũng thuộc Trung đoàn 32. Sau đó được cử đi học khóa Sĩ quan Hành chính, mãn khóa về làm Phụ tá Hành chính Trung đoàn 33 do Thiếu tá Phạm Quốc Thuần làm Trung đoàn trưởng. Đầu năm 1958, biệt phái ngoại ngạch tại Phủ Tổng thống, làm Phụ tá cho Thiếu tá Phạm Ngọc Thảo[6], đặc trách nghiên cứu Kế hoạch Khu trù mật. Tháng 3 năm 1959, ông được cử làm sĩ quan đặc trách Khu trù mật Ba Chúc, quận Tịnh Biên, Long Xuyên do Đại úy Nguyễn Văn Chất làm Quận trưởng, Trung tá Nguyễn Văn Minh làm Tỉnh trưởng.

Đầu năm 1960, ông được thăng cấp Đại úy, biệt phái sang lĩnh vực Hành chính Quân sự và được chỉ định làm Phó Tỉnh trưởng Nội an tỉnh Vĩnh Long do Đốc phủ sứ Khưu Văn Ba[7] làm Tỉnh trưởng. Sau 10 ngày, bàn giao chức vụ Phó tỉnh Nội an lại cho Thiếu tá Lê Thành Đô[8]. Ngay sau đó ông được cử đi làm Quận trưởng quận Sa Đéc.

Giữa năm 1961, nhận lệnh bàn giao chức vụ Quận trưởng Sa Đéc lại cho Đại úy Nguyễn Văn Xinh[9] Tháng 7 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá và được bổ nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh[10] thay thế Thiếu tá Trần Cửu Thiên[11] được cử đi du học tu nghiệp khóa Bộ binh cao cấp tại Hoa Kỳ.

Tháng 11 năm 1962, ông nhận lệnh bàn giao tỉnh Phong Dinh lại cho Thiếu tá Trần Bá Di, Thiếu tá Trần Đình Thọ làm Phó tỉnh Nội an. Giữa năm 1963, ông được cử theo học lớp Chỉ huy và Tham mưu cao cấp tại Đà Lạt.

Đầu tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11), ông trở lại quân đội và được cử giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh do Đại tá Cao Hảo Hớn làm Tư lệnh, đồng thời ông kiêm chức vụ Tư lệnh Khu chiến U Minh Thượng và U Minh Hạ.

Đầu tháng 6 năm 1964, bốn tháng sau cuộc Chỉnh lý nội bộ Hội đồng Quân nhân Cách mạng vào ngày 30 tháng 1 của tướng Nguyễn Khánh, một lần nữa ông được biệt phái sang Hành chính và được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Hậu Nghĩa thay thế vị tiền nhiệm đầu tiên là Trung tá Sầm Tấn Phước[12] Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Ngày 19 tháng 2 năm 1965, ông tham gia cuộc đảo chính Chính quyền quân đội do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và Đại tá Phạm Ngọc Thảo cùng cầm đầu. Cuộc đảo chính bất thành, ông bị bắt giam tại Quân lao Gò Vấp. Trung tá Nguyễn Trí Hanh[13] được cử thay thế ông làm Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa. Đến ngày 7 tháng 5 cùng năm, ông bị xét xử trước Tòa án Mặt trận Quân sự, tòa tuyên án ông 6 tháng tù ở, giáng cấp xuống binh nhì, buộc giải ngũ và xóa tên trong danh bạ Quân đội VNCH. Sau khi bị buộc giải ngũ, ông về cư ngụ ở quê quán Mỹ Tho, sau lên Sài Gòn hành nghề lái xe Tắc xi để mưu sinh.

Cuối năm 1965, ông được gọi tái ngũ và được phục hồi cấp bậc Trung tá như cũ. Đầu năm 1966, ông được cử làm Phụ tá Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh đặc trách lãnh thổ Khu chiến thuật Tiền Giang kiêm Tham mưu phó Chiến tranh Chính trị do Đại tá Nguyễn Viết Thanh làm Tư lệnh.

Hạ tuần tháng 3 năm 1968, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Gò Công thay thế Trung tá Trần Thanh Xuân[14]. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm ông được thăng cấp Đại tá. Đến giữa năm 1969, ông nhận lệnh bàn giao tỉnh Gò Công lại cho Đại tá Nguyễn Tất Thinh[15] ông chuyển đi giữ chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Long An thay thế Đại tá Nguyễn Văn Ngưu[16]

Tháng 11 năm 1970, bàn giao tỉnh Long An lại cho bào đệ là Trung tá Lê Văn Năm[17](nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 14, Sư đoàn 9 Bộ binh). Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Gia Định thay thế Đại tá Nguyễn Văn Tồn[18].

Ngày 19 tháng 1 năm 1972, được lệnh bàn giao chức vụ Tỉnh trưởng Gia Định lại cho Đại tá Châu Văn Tiên[19]. Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh thay thế Trung tướng Nguyễn Xuân Thịnh được bổ nhiệm chức Chỉ huy trưởng Pháo binh Trung ương.

Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Thượng tuần tháng 11 năm 1973, Ông bị câu lưu sau khi bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Toán.[25] Ông bị đình chỉ quân vụ và bị quản thúc tại gia đợi lệnh của Tòa án Mặt trận Quân sự. Cuối năm 1974, ông bị tạm giam tại Đề lao Chí Hòa để chờ điều tra.

1975

Sau ngày 30 tháng 4, ông được cho về với gia đình. Sau đó trình diện ban Quân quản Thành phố Sài Gòn, ông tiếp tục bị đưa đi tù lưu đày từ Nam ra Bắc đến ngày 11 tháng 2 năm 1988 mới được trả tự do.

Năm 1990, ông cùng gia đình xuất cảnh theo chương trình "Ra đi có trật tự" diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh. Định cư tại Garden Grove, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Huy chương

- Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng.
- Một số huy chương quân sự, dân sự khác. 

Người lính già  và chiến trường xưa.
Giao Chỉ, San Jose

Tâm sự đêm giao thừa.

Tôi đã sống qua những giây phút rất đặc biệt để nghe tâm sự của hai người chiến binh già về chiến trường xưa. Chuyện mới xảy ra vào giữa đêm cuối năm và ngày mùng 1 tết. Năm cũ là năm Bính Thân và năm mới là năm Đinh Dậu. Lúc gần giao thừa, tôi nói chuyện với ông em, đại tá Lê Văn Năm. Chiều mùng một tết, tôi nói chuyện với ông anh. Chuẩn tướng Lê Văn Tư. Câu chuyện kéo nhau về thời quá khứ hơn 40 năm trước. Giữa những người chiến binh già, đâu còn những kỷ niệm nào ngoài  chuyên binh lửa của đời binh nghiệp. Trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà, tôi biết rất nhiều gia đình có hơn một người con tử trận. Có gia đình anh em ruột chết ở cả hai bên chiến tuyến. Nhưng ít có gia đình nào mà cả hai anh em làm tướng. Gia đình họ Lâm ở Bắc CA có ông anh là thiếu tướng Lâm Quang Thơ và người em là trung tướng Lâm Quang Thi. Lại mới nghe anh em võ bị nói rằng bà Thi già yếu phải vào nursing home. Ông Thi cũng xin vào luôn để săn sóc người vợ vào những ngày hoàng hôn của cuộc đời. Nhớ lại năm xưa ông đại tướng Nguyễn Khánh cũng vào nursing home để săn sóc cho bà vợ Bắc Kỳ. Được một thời gian, vị quốc trưởng thứ hai của miền Nam lại ra đi trước, để lại phu nhân nửa tỉnh nửa mê. Ai hỏi thăm ông Khánh bà vẫn quả quyết là ông đại tướng còn đi làm. Bây giờ tôi xin kể chuyện hai anh em ông đầu tỉnh họ Lê cho các bạn chiến hữu quá thập bát niên biết rõ đầu đuôi.
 

Chuyện ông em. Đại tá Lê văn Năm.

Đầu đuôi câu chuyện thế này. Ở miền Virgina có ông bạn là bác sĩ Nguyễn Dương trước Tết đã điện thoại rồi email qua để nhờ Giao Chỉ đóng vài tâm lý chiến của bộ Tổng Tham Mưu. Ông Nguyễn Dương ngày xưa là y sĩ trung đoàn 14 thuộc sư đoàn 9 do ông Lê văn Năm làm trung đoàn trưởng. Thời đó ông y sĩ trẻ của trung đoàn mới ra trường còn mang cấp trung úy. Ông trung đoàn trưởng còn mang cấp trung tá. Sau 1975 ông Dương mang lon đại úy y sĩ của Không Quân chạy sang Hoa Kỳ. Ông đỗ lại bằng bác sĩ Mỹ rồi nhập ngũ từ đại úy lên đến đại tá y sĩ của US ARMY mới giải ngũ với đầy đủ vinh dự của quân lực Mỹ. Ông Dương cũng đã từng là y sĩ cho sư đoàn thiết giáp Hoa Kỳ tham dự trận Trung Đông. Một buổi chiều mùa Đông, từ miền thủ đô ông Dương chợt nhớ vị trung đoàn trường ngày xưa ở chiến trường Vĩnh Bình miền Tây, ông bên tìm phone gọi hỏi thăm ông chiến binh già Lê Văn Năm. Đối với ông Năm, mãi mãi ông Dương vẫn là anh trung úy y sĩ tiền tuyến của trung đoàn. Ông Năm hiện đã quá thập bát tuần thêm 5 năm lẻ. Tai đã nghe không rõ. Tiếng nói không còn mạnh mẽ như xưa. Ông chỉ nhớ loáng tháng ngày xưa có những anh y sĩ lội ruộng miền Tây cùng lính sư đoàn 9. Hỏi thăm ông thầy cũ vừa xong, bác sĩ Dương biết ông Năm cũng ở San Jose với ông Giao Chỉ. Thầy Dương bèn gọi cho tôi. Nói rằng có chuyện gì vui xin gọi cho ông Năm tham dự. Chúng tôi ừ ào trả lời rồi thì cũng không nhớ. Bên miền Đông vừa xong giao thừa, ông Dương phone nhắc tôi lần chót. Khi pháo bắt đầu nổ lai rai ở San Jose, tôi gọi cho ông Lê Văn Năm. Hết sức ngạc nhiên, ông Năm trả lời. Câu chuyện mở đầu dè dặt. Một anh Bắc Kỳ nói chuyện xưa lần đầu với anh Nam Kỳ cùng tuổi. Anh tuổi gà tôi cũng tuổi gà. Năm nay năm tuổi. Lúc nào cũng sẵn sàng tai biến mạch máu não như không. Ta cố qua khỏi năm nay sẽ sống thêm 12 năm nữa. Phải không. Câu chuyện chuyển dần từ lai rai ngập ngừng rồi đến khi trở lại thời nhập ngũ 53-54 cho đến 75 thì vô cùng hấp dẫn. Lê văn Năm tâm sự rằng đời ông ba chìm bầy nổi, khóa 8 võ bị đi từ trung đội trưởng đi lên. Đánh Đông đẹp Bắc. Vào những năm cuối thì kể như huy hoàng cả hai anh em. Tâm sự rằng, vào một buổi chiều trong dinh Độc Lập, ông Thiệu trò chuyện với cả hai anh em họ Lê. Tổng thống nói rằng ông trông cậy hai anh em giữ vững cho vòng đai thủ đô. Đại tá anh là Lê Văn Tư đang là tỉnh trưởng Long An bàn giao cho trung tá em Lê Văn Năm để về giữ tỉnh Gia Định. Ông Năm nhận tiểu khu Long An lãnh đạo ngon lành. Thăng cấp đại tá. Ông Tư về Gia Định cũng xuất sắc không kém. Chỉ vài tháng sau ông Tư lên chuẩn tướng. 

Từ Gia định ông Tư về làm tư lệnh sư đoàn 25 bộ binh. Binh nghiệp của hai anh em họ Lê coi như lên đỉnh cao sau bao nhiêu gian truân vất vả đời lính. 
 

Niềm vui trong thiên tai

Nhưng ai ngờ niềm vui đã nằm trong thiên tai. Long An chợt xẩy ra vụ buôn lậu có còi hụ. Số là ông bà lớn trên Sài Gòn tổ chức buôn lậu các hàng ngoại trốn thuế đi bằng tàu hải quân rồi đổ bộ dùng xe quân vận có quân cảnh hụ còi hộ tống chạy qua Long An. Hệ thống tổ chức được đồn là của các bà lớn nên được tầu nhà binh và quân xa chở về Sài Gòn. Lính địa phương của Long An tình cờ chặn bắt và báo chí loan tin ầm ỹ. Vụ án được điều tra và không có tin tức chính thức được công bố. Dù vậy tất các giới chức liên quan thay vì được khen thưởng lại bị phạt tù, thuyên chuyển rất bất công oan ức. Riêng ông đại tá tỉnh trưởng bị mất chức trả về quân đội và ông tướng Lạc, trong tình huynh đệ chi binh cho ông Năm về coi lại trung đoàn 14. Thêm các thành phần tăng phái để gọi là đại tá chỉ huy trưởng chiến đoàn 14. Ông Năm lại tiếp tục quần thảo với cộng sản trên chiến trường Đồng Tháp. 

Chính phủ không về miền Tây

Câu chuyện của chúng tôi kéo dài đoạn cuối vào tháng tư 1975. Ông kể lại. Từ Đồng Tháp tôi kéo quân ra quốc lộ vì có lệnh ông tư lệnh sư đoàn 9 chuẩn bị đón phái đoàn chính phủ rút về miền Tây. Đại tá Năm đem quân từ Long An kéo về gần Sài Gòn. Nhưng rồi ông tướng Lạc cho lệnh dẹp. Chính phủ sẽ không về miền Tây. Còn đang bay trực thăng điều quân trên không phận Tiền Giang thì nghe tin tướng Minh đầu hàng. Máy bay đáp xuống sân bay mà thầy trò thấy rã rời thân chiến sĩ. Anh phi công vội vàng chào xếp để bay vút lên trời cao. Anh tìm đường về gặp vợ con. Ông chiến đoàn trưởng Lê Văn Năm vào gặp tư lệnh sư đoàn 9 nhìn nhau ngao ngán. Tôi hỏi thêm. Sau đó rồi ra sao. Ông Năm nói. Còn gì nữa đâu. 13 năm đi tù lao cải. Từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vào Nam. Ông nhắc đi nhắc lại. 13 năm. 13 năm. Suốt cuộc đời chinh chiến kể lại từ 9 giờ tối đến gần 12 giờ đêm. Đêm Giao thừa năm Bính Thân mà chuyển qua năm Đinh Dậu. 
Trải qua hơn 20 năm quân ngũ ông nhớ chuyện gì. Đánh đấm thì ngày nào cũng như ngày nào. Chỉ nhớ ngày anh em ngồi nghe lời dặn dò của ông Thiệu. Anh em họ Lê sẽ thăng cấp và làm quan đầu 2 tỉnh quan trọng của miền Đông và miền Tây Sài Gòn. Nhớ tiếng còi hụ buôn lậu chạy qua Long An. Nhớ lệnh của ông Lạc, tư lệnh sư đoàn 9 đem quân ra đón chính phủ về miền Tây tiếp tục cuộc chiến. Nhưng không thấy chính phủ đâu. Rồi sau cũng là lệnh buông súng khi ngồi trên trực thăng. Tôi hỏi câu cuối trước khi chia tay đón giao thừa. Vào thời kỳ tháng tư 75 đó. Chuẩn tướng Lê Văn Tư ở đâu. Ông đại tá Năm nói. Anh tôi lúc đó nằm trong nhà tù Chí Hòa. Câu trả lời hay tiếng pháo giao thừa rộn rã tại khu thương mại Việt Nam ở San Jose làm tôi mất ngủ.

Chuyện ông anh, chuẩn tướng Lê văn Tư.

Tối mùng một Tết, đang họp mặt với anh em chợt có điện thoại lạ từ xa gọi về. Ông chuẩn tướng Lê Văn Tư muốn nói chuyện. Cuộc đời của ông Tư còn gian nan ly kỳ hơn người em. Giai đoạn cuối ông cho biết bị nhiều oan khuất với tội tham nhũng và hoạt động cho cộng sản. Thời kỳ 30 tháng tư còn bị tạm giam trong Chí Hòa. Ông ra tù rồi sau đó trình diện cộng sản và cuộc đời lao động cải tạo kéo dài 13 năm . Chẳng hề có chỉ dấu nào là hoạt động cho cộng sản để được Việt Cộng biệt đãi. Ông Tư nói với tôi rằng, anh ở bộ Tổng Tham Mưu nên cần ghi lại câu chuyện của tôi. Tôi thưa rằng, phải chi khoảng trên 20 năm trước còn ông Thiệu để nghe giãi bày. Hoặc hơn 10 năm trước chúng tôi thưa với ông Đại tướng tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Hay ít nhất năm ngoái, chúng tôi có thể làm phiếu trình lên ông Đồng văn Khuyên, tham mưu trưởng liên quân.

Bây giờ nỗi niềm tâm sự hay oan khuất biết tỏ cùng ai. Tôi cùng tuổi với ông Năm nên coi anh Tư là niên trưởng. Xin thông cảm niềm tâm sự của đàn anh. Suốt 25 năm binh nghiệp từ Bắc vào Nam rồi tù đầy từ Nam ra Bắc. Bao nhiêu gian truân đã trải qua. 13 năm tù cộng sản, thân già chỉ nhớ một việc gánh phân trồng rau nhưng không thấy đau thương. Chỉ cay đắng những ngày phe ta cho nằm khám Chí Hòa. Để chia xẻ niềm đau của người chiến binh cao niên, tôi tìm đọc và tóm tắt lại tiểu sử binh nghiệp của chuẩn tướng Lê Văn Tư

Tiểu sử chuẩn tướng Lê Văn Tư ((Wikipedia 

Ông sinh ngày 29 tháng 9 năm 1931, tỉnh Mỹ Tho, học Tiểu và Trung học chương trình Pháp tại Mỹ Tho. Tốt nghiệp với văn bằng Thành chung. Sau đó từ năm 1947 đến năm 1949 ông theo học trường Y tá Đông Dương tại Bênh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Ra trường, về tùng sự tại Tòa Đô sảnh Sài Gòn. Sau chuyển về nguyên quán, phục vụ tại Bệnh viện Mỹ Tho.

 Cuối tháng 6 năm 1951, thi hành lệnh động viên theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt,  . Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa với cấp bậc Thiếu úyhiện dịch. Ra trường, tình nguyện vào đơn vị Nhảy phục vụ tại Tiểu đoàn 1 chức vụ Trung đội trưởng. Giữa năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy   Tiểu đoàn 3 Nhảy chức vụ Đại đội phó.

Tháng 8 năm 1954, sau Hiệp định Genève   rời Binh chủng Nhảy dù chuyển sang Thanh tra Quân huấn Trung tâm Huấn luyện Quán Tre.   

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Giữa Năm 1956, ông được cử làm Đại đội trưởng Đại đội Chỉ huy Công vụ của Trung đoàn 32 do Thiếu tá Đỗ Kiến Nhiễulàm Trung đoàn trưởng, đồn trú tại Cái Vồn thuộc Sư đoàn 11 khinh chiến.  Đến tháng 7 năm 1957, chuyển qua giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 13 cũng thuộc Trung đoàn 32. Sau đó được cử đi học khóa Sĩ quan Hành chính, mãn khóa về làm Phụ tá Hành chính Trung đoàn 33 do Thiếu tá Phạm Quốc Thuần làm Trung đoàn trưởng. Đầu năm 1958, biệt phái ngoại ngạch tại Phủ Tổng thống, làm Phụ tá cho Thiếu táPhạm Ngọc Thảo, đặc trách nghiên cứu Kế hoạch Khu trù mật. Tháng 3 năm 1959, ông được cử làm sĩ quan đặc trách Khu trù mật Ba Chúc, quận Tịnh Biên, Long Xuyên.  

Đầu năm 1960, ông được thăng cấp Đại úy làm Phó Tỉnh trưởng Nội an tỉnh Vĩnh Long Ngay sau đó ông được cử đi làm Quận trưởng quận Sa Đéc. Giữa năm 1961  ông được thăng cấp Thiếu tá và được bổ nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh . Giữa năm 1963, ông được cử theo học lớp Chỉ huy và Tham mưu cao cấp tại Đà Lạt. Đầu tháng 11 năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11), ông trở lại quân đội và được cử giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh, kiêm chức vụ Tư lệnh Khu chiến U Minh Thượng và U Minh Hạ.

Đầu tháng 6 năm 1964,  được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Hậu Nghĩa  Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấpTrung tá nhiệm chức . Ngày 19 tháng 2 năm 1965, ông tham gia cuộc đảo chính Chính quyền quân đội do Thiếu tướngLâm Văn Phát và Đại tá Phạm Ngọc Thảo cùng cầm đầu. Cuộc đảo chính bất thành, ông bị bắt giam tại Quân lao Gò Vấp.   Đến ngày 7 tháng 5 cùng năm, ông bị xét xử trước Tòa án Mặt trận Quân sự và bị buộc giải ngũ.  Cuối năm 1965, ông được gọi tái ngũ và được phục hồi cấp bậc Trung tá như cũ. Đầu năm 1966, ông được cử làm Phụ tá Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh. Hạ tuần tháng 3 năm 1968, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Gò Công . Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm ông được thăng cấp Đại tá. Đến giữa năm 1969,  ông chuyển đi giữ chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Long An  

 Tháng 11 năm 1970, bàn giao tỉnh Long An lại cho bào đệ là Trung tá Lê Văn Năm (nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 14, Sư đoàn 9 Bộ binh). Ngay sau đó, ông được bổ nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Gia Định thay thế Đại tá Nguyễn Văn Tồn

Ngày 19 tháng giêng năm 1972 , ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh   . Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng  nhiệm chức.

Năm 1973, do liên quan đến việc nhận hối lộ trong vụ buôn lậu Ông bị đình chỉ quân vụ và bị quản thúc tại gia đợi lệnh của Tòa án Mặt trận Quân sự. Cuối năm 1974, ông bị tạm giam tại Đề lao Chí Hòa để chờ điều tra.

 Sau ngày 30 tháng 4, ông được cho về với gia đình. Sau đó trình diện ban Quân quản Thành phố Sài Gòn, ông tiếp tục bị đưa đi tù lưu đày từ Nam ra Bắc đến ngày 11 tháng 2 năm 1988 mới được trả tự do.

Năm 1990, ông cùng gia đình xuất cảnh theo chương trình "Ra đi có trật tự" diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh. Định cư tại Garden Grove, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.                                                 

Rồi sẽ qua đi.

Mc. Arthur đã nói. Người lính già không chết, họ chỉ qua đi thôi. Thưa cùng các cựu chiến hữu cao niên. Quân đội ở đâu cũng vậy. Không có chuyện đúng sai. Không có sự hợp lý hay công bình. Làm sao hợp lý khi hô xung phong để thúc đẩy chiến bịnh lao vào chỗ chết. Quân đội chỉ có một nhu cầu duy nhất là chiến thắng. Chiến thắng trận sau cùng. Chúng ta không thắng được trận sau cùng. Bây giờ chuyện binh lửa đã qua rồi. Nói chi cũng bằng không. Bao nhiêu năm trải qua một chiến trường tồi tệ. Bao nhiêu năm trải qua thời kỳ tù đầy khốn nạn. Giữa buổi giao thừa nửa thế kỷ sau mà vẫn còn nhớ chuyện tháng tư cay đắng. Người em nghe lệnh đầu hàng trên phi cơ hành quân. Ông anh nghe lệnh đầu hàng trong trại tù VNCH. Quả thực anh em cựu chiến binh chúng ta nợ nhau những lời tâm sự. Kể ra được rồi, tay nắm lấy bàn tay. Vinh quang cũng không còn nữa. Nhục nhằn cũng hết rồi. Những người lính già cũng không sống mãi với cuộc đời. Rồi họ cũng qua đi thôi. Còn lại chút tình chiến hữu.

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393

  
Lê Văn Tư
Chức vụ
Cờ Thẳng tiến.png
Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh
Nhiệm kỳ1/1972 – 11/1973
Cấp bậc-Đại tá (11/1968)
-Chuẩn tướng (11/1972)
Tiền nhiệm-Trung tướng Nguyễn Xuân Thịnh
Kế nhiệm-Đại tá Nguyễn Hữu Toán
Vị tríQuân khu III
Tư lệnh phó
Tham mưu trưởng
-Đại tá Trần Vĩnh Huyến
-Đại tá Trương Thắng Chức

Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng
Tiểu khu Gia Định
Nhiệm kỳ11/1970 – 1/1972
Cấp bậc-Đại tá
Tiền nhiệm-Đại tá Nguyễn Văn Tồn
Kế nhiệm-Đại tá Châu Văn Tiên
Vị tríBiệt khu Thủ đô
thuộc Quân khu III

Tinh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng
Tiểu khu Long An
Nhiệm kỳ6/1969` – 11/1970
Cấp bậc-Đại tá
Tiền nhiệm-Đại tá Nguyễn Văn Ngưu
Kế nhiệm-Trung tá Lê Văn Năm
Vị tríQuân khu IV

Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng
Tiểu khu Gò Công
Nhiệm kỳ3/1968 – 6/1969
Cấp bậc-Trung tá (11/1964)
-Đại tá
Tiền nhiệm-Trung tá Trần Thanh Xuân
Kế nhiệm-Đại tá Nguyễn Tất Thinh
Vị tríVùng 4 chiến thuật

ARVN 7th Division SSI.svg
Phụ tá Tư lệnh SĐ 7 Bộ binh
Đặc trách khu Chiến thuật Tiền Giang
kiêm Tham mưu phó CTCT
Nhiệm kỳ1/1966 – 3/1968
Cấp bậc-Trung tá
Vị tríVùng 4 chiến thuật
Tư lệnh Sư đoàn-Đại tá Nguyễn Viết Thanh

Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng
Tiểu khu Hậu Nghĩa
Nhiệm kỳ2/1964 – 2/1965
Cấp bậc-Thiếu tá (7/1961)
-Trung tá
Tiền nhiệm-Trung tá Sầm Tấn Phước
Kế nhiệm-Trung tá Nguyễn Trí Hanh
Vị tríVùng 3 chiến thuật

21st Division.jpg
Chỉ huy Trung đoàn 32/SĐ 21 BB
Tư lệnh Khu chiến U Minh Thượng và Hạ
Nhiệm kỳ11/1963 – 2/1964
Cấp bậc-Thiếu tá
Vị tríVùng 4 chiến thuật
Tư lệnh Sư đoàn-Đại tá Cao Hảo Hớn

Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng
Tiểu khu Phong Dinh
Nhiệm kỳ7/1961 – 16/1963
Cấp bậc-Thiếu tá
Tiền nhiệm-Thiếu tá Trần Cửu Thiên
Kế nhiệm-Thiếu tá Trần Bá Di
Vị tríVùng 4 chiến thuật

 Binh nghiệp

Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ1951-1974
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịVietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
Hiệu kỳ Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.png TTHL Quang Trung
ARVN 7th Division SSI.svg Sư đoàn 7 Bộ binh
Cờ Thẳng tiến.png Sư đoàn 25 Bộ binh
21st Division.jpg Sư đoàn 21 Bộ binh
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Commander BAR.png B.quốc H.chương