Saturday, June 27, 2026

Trung tướng Trần văn Trung, vị ân nhân của tôi


Lời người viết: Có thể bài viết này trung tướng Trần văn Trung không thích. Bởi bản tính ông rất khiêm nhường. Tuy nhiên, đối với tôi, tôi cần phải nói lên những gì tôi mang nặng trong lòng. Xin ông vui lòng miễn chấp và tha lỗi cho một đàn em của ông. (THT)

(trích từ Cảm Tạ Văn Chương, đang viết)
Sau khi lập gia đình, tôi đã nghĩ đến sự dừng chân lại. Nhất là từ khi đọc truyện dịch Người Lữ Hành Cô Đơn, của Georghiu, kể về cuộc chiến đấu của một nhà văn Lỗ Ma Ni. Không phải để được trở thành anh hùng, được lãnh tụ đề cao, được bộ máy nhà nước vinh danh mà  để được sống và viết. Trong trí nhớ lù mù của tôi, vì quá lâu, tôi chưa hề được đọc lại, tôi cứ nhớ lại cảnh nhân vật chánh ngồi trong toa tàu, mỗi ngày hàng trăm cây số, chạy qua những vùng vẫn còn âm ỉ khói lửa, những trại binh, và những đoàn quân ra tiền tuyến…

Nhưng chiến đấu bằng cách gì, chiến  đấu như thế nào, để tôi còn được sống và được viết như nhân vật chính của tác phẩm.

Chiến đấu bằng cách gì, để tôi được trở về gặp người vợ mới cưới của tôi, khi tôi đang ở tại núi rừng, còn nàng thì tận mịt mùng dưới đồng bằng châu thổ.

Chiến đấu bằng cách gì để nàng còn hy vọng thấy chồng, khỏi làm cảnh chinh phụ mòn mỏi đợi chờ.

Tôi bỗng nghĩ đến một người cấp cao nhất trong binh chủng chiến tranh chính trị. Người ấy là Trung tướng Trần văn Trung, tổng cục trưởng.

Hãy thử một lần. May ra ông động lòng từ tâm.

Thế rồi, tôi viết một tờ đơn trình bày những nguyện vọng của tôi:  Xin được chuyển qua ngành chiến tranh chính trị và được làm phóng viên chiến trường.

Tôi cắt những trang báo, những bài viết của tôi,  những tin tức liên quan đến những lần tôi bị thương, những huy chương tôi có, cùng những tác phẩm mà tôi xuất bản, rồi bỏ tất cả vào một phong bì lớn. Trên phong bì tôi viết: Kính gởi Trung Tướng Trần văn Trung, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, KBC…, thêm hàng chữ đậm: THƯ PHÁT RIÊNG…

Sau khi gởi đi rồi, tôi mới biết mình đã quá rồ dại. Làm sao được. Đâu phải dễ gì để được chuyển về một nơi bình an mà chờ đợi hòa bình. Đâu phải dễ gì được trở thành một phóng viên chiến trường khi tôi không có lấy một ngày học chiến tranh chính trị, chưa hề trải qua một khóa huấn luyện về chiến tranh chính trị.
Bây giờ tôi chỉ biết chờ đợi  những ngày trọng cấm…

Tôi đã phạm một kỷ luật nặng của quân đội, là không tuân theo Hệ Thống Quân Giai. Đó là cái lỗi không thể tha thứ được.
****

Vậy mà, hôm ấy, tôi quá vui. Ôi, có phải phép lạ không. Tôi rưng rưng. Tôi chắp tay vái lạy tứ phương. Vái lạy từng bụi cây, ngọn cỏ. Tôi tin cậy vào tình người. Tôi đã viết thư cho Y. về tin mừng này.  Mùa xuân, hoa sứ tràn ngập cả khu cư xá sĩ quan. Những hàng muồng nở hoa vàng ở dọc theo đường từ Bộ Tư Lệnh về  phố. Đàn chim én bay giỡn trong không gian màu trắng sữa. Tôi mừng quá. Có phải đây là một sự sắp đặt sẵn của định mệnh. Có phải câu “Hết cơn bĩ cực đến hồi thới lai” chăng?

Tôi tin vậy. Cái sự việc lạ lùng nhất, không thể tưởng tượng cho một kẻ xuất thân từ đơn vị hai quản trị mà tờ sự vụ lệnh vẫn còn ghi rành rành: “Sĩ quan đương sự phải phục vụ ở đơn vị tác chiến, xa trục lộ giao thông”.

Có lẽ tôi còn may mắn hơn tất cả những người may mắn, bởi vì khó có ai được quyền lựa chọn một đơn vị mình ưa thích trên toàn cõi miền Nam như tôi. Như cái công điện đánh lên từ Tổng Cục Chiến tranh chính trị, đại ý cho biết Tổng cục chấp thuận ý nguyện của tôi, và hỏi tôi, muốn về nơi nào. Vùng I,II, III, IV hay thủ đô.

Dĩ nhiên là tôi chọn vùng IV. Nơi có Y., người nữ độc giả của tôi, và  trở thành người vợ mới cưới của tôi.

Bây giờ tôi chỉ chờ lệnh thuyên chuyển. Hết rồi lời ca của TCS như thay tôi nói về cuộc tình trong chiến tranh: Một người về đỉnh cao. Một người về vực sâu… Nhưng mà không phải là Để cuộc tình chìm mau, mà cuộc tình càng tha thiết, càng mạnh mẽ hơn bao giờ.
 đọc tiếp
Tôi kể với vợ tôi là anh đã chiến đấu, và chiến thắng. Ba anh, mỗi đêm thắp nhang cầu khẩn Phật Trời, viết hàng trăm thư gởi dân biểu KMT, nhưng bình nhang càng lúc càng đầy ắp… Những tin tức đăng trên Văn, Bách Khoa, thay tòa soạn kêu cứu để anh khỏi đi thám kích với đôi mắt cận thị nặng, hay sau khi bị thương, thì cũng trở thành tiếng kêu trong sa mạc. Họ làm sao biết là anh đâu cần.

Phải. Gần bốn năm ở một đơn vị dữ dằn nguy hiểm là đơn vị thám kích, thì quá chai lỳ rồi. Một trung đội không bao giờ đầy đủ quân số. Tối đa là 18. Quân số ma, kiểng, nào ai biết. Nhưng mà chúng tôi dư tràn lửa và tình đồng đội. Chúng tôi đã gắn bó với nhau, dìu dẫn nhau. So với tôi, họ – những người lính thuộc cấp – đâu có ai để nhờ cậy tựa nương. Và cũng vì không có những điều kiện “cổ cánh” “con ông cháu cha” (COCC), nên họ mới có mặt ở đơn vị được xem là đơn vị nguy hiểm nhất của sư đoàn. Còn tôi, ít ra tôi vẫn là một thiếu úy. Tôi hơn họ tiền lương, hơn họ quyền hạn, hơn họ là có người hầu cận, mang ba-lô, nấu nướng như một đầu bếp ngoài chiến trường.

Vậy mà, giờ đây tôi lại yếu hèn để làm đơn từ kêu gọi lòng thương hại của trung tướng. Không, tôi mong được trở thành một phóng viên chiến trường. Tôi sẽ tiếp tục sống và viết. Tôi muốn mắt tôi mở ra lớn hơn ở tầm nhìn thay vì thu hẹp lại của một thiếu úy trung đội trưởng. Mắt tôi độ nặng, nhưng tôi muốn thấy nhiều hơn, rộng hơn. Tôi sẽ mang cái kinh nghiệm đánh giặc cộng vào kinh nghiệm viết văn để thực hiện giấc mơ của tôi. Viết một tác phẩm về chiến tranh VN với tất cả sự trung thật nhất.

Còn nữa. Còn em. Tại sao em là vợ anh. Để anh phải nghĩ đến một sự dừng lại, để anh phải mơ ước một ngày có em nấu cho chồng một bát canh chua cá lóc… Em không bao giờ than thở vì có người chồng là lính thú. Nếu có chăng chỉ là lời cầu nguyện.
Vâng, lời cầu nguyện của em, của ba anh, chắc đã được nghe. Anh đang chờ lệnh thuyên chuyển đây.

******

Vậy mà người ta không chấp thuận. Một tuần sau, tôi nhận được công điện của Phòng Tổng Quản Trị / Bộ Tổng Tham Mưu, bản sao, cho biết Bộ Tổng Tham Mưu không chấp thuận đề nghị của Tổng Cục CTCT. Lý do đương sự không phải nằm trong quân số CTCT.

Thế là xong. Xem như niềm mơ ước của một người lính viết văn không được thành tựu. Tôi kể với vợ tôi về tin buồn. Nàng khóc. Tôi không thể ngờ chuyện quá dễ, khi mà quả bóng đã xem như năm được rồi, thì cuối cùng nó lại vuột khỏi tầm tay.
Để rồi, mỗi ngày đôi giày trận càng lún vào vũng bùn đất đỏ của thị trấn BMT. Để rồi mỗi ngày tiếng hát của Lệ Thu từ rạp chiếu bóng bên cạnh cư xá, càng về đêm càng nghe rõ, như làm nhức buốt buồng tim qua bài Nghìn trùng ngăn cách…

***

Không thể ngờ khoảng một tuần sau đó, tôi lại nhận thêm một công điện nữa. Lần này, BTTM cho biết tái xét và chấp thuận theo như đề nghị của Tổng cục CTCT. Rõ ràng, Tổng cục đã thêm một lần can thiệp cùng Bộ TTM.

Tôi viết lại câu chuyện có tánh cách cá nhân này, để nói lên tấm lòng biết ơn của tôi đến Trung tướng Trần văn Trung. Ông đã giúp tôi được đoàn tụ với vợ con tôi, giúp tôi trờ thành một phóng viên chiến trường thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long như tôi mơ ước. Và nhất là hôm nay, tôi còn sống đây, để viết bài này, cũng là nhờ cái ân quá lớn đối với ông.
Một lần nữa, đàn em này xin được cảm ơn ông.

Tiểu Sử Trung Tướng Trần Văn Trung

 

Trần Văn Trung (sinh năm 1926) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia được Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Trung Việt Nam. Khi còn là một sĩ quan cấp úy ông chỉ có một lần chỉ huy đơn vị tác chiến (Tiểu đoàn trưởng). Sau này ông đảm nhiệm những chức vụ Trưởng ban, Phòng hoặc Chỉ huy trưởng các Trường, Cục chuyên về đào tạo và yểm trợ; nên ông còn được mệnh danh là "Tướng Văn phòng". Nhìn bề ngoài ông có phong cách là một "nhà giáo" hơn là một vị tướng. Ông cũng là một Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng đặc trách Chiến tranh Chính trị (Tổng cục trưởng) với thời gian lâu nhất (1966-1975). Cũng là thời gian Đại tướng Cao Văn Viên giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng.

Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 14 tháng 2 năm 1926 trong một gia đình Nho giáo tại Hương Trà, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Thuở nhỏ ông là học sinh trường Tiểu học Hương Trà, sau đó học ở trường Trung học Tư thục Thuận Hóa, Huế. Năm 1945, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông tại Huế với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Được bổ dụng làm công chức ngoại ngạch tại Huế một thời gian ngắn tước khi gia nhập Quân đội.

Quân đội Liên hiệp Pháp

Cuối tháng 9 năm 1948, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 46/200.975. Theo học khóa 1 Bảo Đại (sau cải danh thành khóa Phan Bội Châu) tại trường Võ bị Huế,[2] khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948. Ngày 1 tháng 6 năm 1949 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[3] Ngay sau khi ra trường ông được cử đi tu nghiệp khóa căn bản Bộ binh tại trường Võ bị Saint Cyr, Pháp.

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Năm 1950, sau khi mãn khóa về nước, ông phục vụ Quân đội Quốc gia và được cử làm Trung đội trưởng trong đơn vị Bộ binh. Qua năm 1951, ông tiếp tục được cử đi học và tốt nghiệp Thủ khoa khóa Chỉ huy và Chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà Nội.[4] Cùng năm ông được thăng cấp Trung úy, được cử làm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Địa phương Trung Việt[5] Đầu năm 1954, ông được thăng cấp Đại úy và được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 khinh binh Việt Nam hoạt động trên vùng châu thổ Sông Hồng. Sau hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, ông cùng Tiểu đoàn di chuyển vào Nam.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Tháng 11 năm 1955, sau khi chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá, vẫn tiếp tục làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27. Đầu năm 1957, ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý thuộc Bộ Quốc phòng kiêm Trưởng phòng 5 thuộc Bộ Tổng Tham mưu thay thế Trung tá Nguyễn Phước Đàng.[6] Tháng 10 cùng năm, ông được cử đi làm Tùy viên Quân sự ở Pháp thay thế Trung tá Quách Xến.[7] Tháng 10 năm 1958 ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Tháng 10 năm 1960, mãn hạn Tùy viên Quân sự, về nước ông được cử làm Thanh tra Thanh niên khu vực bắc Cao nguyên Trung phần. Đầu năm 1963, ông được cử làm Tham mưu phó Nhân viên thuộc Bộ Tổng tham mưu. Sau cuộc Chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964 của tướng Nguyễn Khánh. Đầu tháng 2, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Đà Lạt thay thế Thiếu tướng Trần Tử Oai. Tháng 6 cùng năm bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Võ bị lại cho Chuẩn tướng Nguyễn Văn Kiểm, để tái nhiệm chức vụ Tham mưu phó nhân viên kiêm Trưởng phòng 1 Bộ Tổng tham mưu.

Đầu năm 1965, ông được cử làm Trưởng phòng Tổng quản trị Bộ Tổng tham mưu thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn.[8] Thượng tuần tháng 2, bàn giao chức vụ Trưởng phòng Tổng quản trị lại cho Đại tá Bùi Đình Đạm. Trung tuần tháng 2 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức thay thế Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn đi làm Tư lệnh Biệt Khu 24, Kontum. Ngày kỷ niệm 2 năm ngày Cách mạng thành công 1 tháng 11 cuối năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.[9]

Thượng tuần tháng 12 năm 1966, bàn giao chức Chỉ huy trưởng trường Bộ binh lại cho Thiếu tướng Bùi Hữu Nhơn, để đi nhận chức Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Tháng 7 năm 1971, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

1975

Trưa ngày 30 tháng 4, ông cùng vợ và các con nhỏ di tản bằng đường biển đến Vịnh Subic thuộc Philippines. Đến tháng 7 năm 1975, ông xin đi định cư tại Paris, Pháp.

Năm 1979, ba người con lớn của ông (gồm 2 trai, 1 gái) từ Việt Nam cùng sang Pháp đoàn tụ.

Huy chương

-Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (ân thưởng)
-Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu của VNCH
-Legion of Merit của Hoa Kỳ
-Văn huy Bội tinh (Cloud Medal) của Trung Hoa Quốc gia
-Security Medal của Đại Hàn Dân Quốc.

Chú thích

  1.  Tổng cục Chiến tranh Chính trị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu.
  2.  Khóa 1 Võ bị Huế còn được gọi là khóa 1 Võ bị Quốc gia Việt Nam
  3.  Tốt nghiệp khóa 1 Phan Bội Châu Võ bị Huế, sau này lên tướng còn có các Trung tướng Nguyễn Hữu Có, Tôn Thất Đính, Đặng Văn QuangNguyễn Văn Thiệu, các Thiếu tướng Nguyễn Văn ChuânTôn Thất Xứng, các Chuẩn tướng Phan Xuân NhuậnLê Trung Tường.
  4.  Tiền thân của trường Đại học Quân sự và trường Chỉ huy Tham mưu sau này.
  5.  Còn gọi là trường Sĩ quan Đập Đá, đặt trên cơ sở cũ của trường Võ bị Huế đã di chuyển về Đà Lạt. Trường Võ bị Địa phương Trung Việt tiếp tục Huấn luyện và đào tạo được 3 khóa sĩ quan hiện dịch nữa. Trong số sĩ quan tốt nghiệp của 3 khóa này về sau có 3 vị được lên tướng là Thiếu tướng Võ Văn Cảnh, Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp và Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ.
  6.  Trung tá Nguyễn Phước Đàng về sau giải ngũ cùng cấp.
  7.  Trung tá Quách Xến tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, giải ngũ ở cấp Đại tá.
  8.  Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1927 tại Sài Gòn, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau cùng là Đại tá Giám đốc Nha An ninh Hành chính trong Bộ Quốc phòng.
  9.  Trong thời gian Chỉ huy trưởng trường Bộ binh, ông đã tổ chức lễ mãn khóa cho các khóa: Khóa 20 tháng 12 năm 1965, Khóa 20 phụ tháng 4 năm 1966 và Khóa 21 tháng 8 năm 1966.
  10.  Đại tá Nguyễn Huy Hùng sinh năm 1929 tại Lạng Sơn, tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Huế
  11.  Đại tá Nguyễn Văn Thái tốt nghiệp khóa 2 Võ bị Huế
  12.  Đại tá Hoàng Đạo Thế Kiệt sinh năm 1931 tại Hà Đông, tốt khóa 1 Võ khoa Nam Định
  13.  Đại tá Nguyễn Lễ Trí sinh năm 1920 tại Cần Thơ, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt
  14.  Chiến tranh Chính trị
  15.  Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh sinh năm 1922 tại Hà Nam, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt

Tham khảo

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011), Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Thursday, January 15, 2026

Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc (Cựu Tư – Lệnh Sư Đoàn 9 BB từ 1973 – 1975)


Huỳnh Văn Lạc (sinh năm 1927) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên tại trường Sĩ quan Trừ bị do Quân đội Quốc gia được sự hỗ trợ của Quân đội Pháp mở ra ở Nam phần vào đầu thập niên 1950 với mục đích đào tạo sĩ quan người Việt để phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Thời gian tại ngũ, ông được giữ những chức vụ ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, sau cùng ông vẫn trở về phục vụ đơn vị Bộ binh.

Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm 1927 trong một gia đình khá giả tại tỉnh Phú Yên, miền Trung Việt Nam. Năm 1947, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Quy Nhơn với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Sau đó được tuyển dụng làm giáo chức tại Phú Yên cho đến ngày gia nhập quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Cuối tháng 3 năm 1953, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 47/104.418. Theo học khóa 3 Đống Đa[1] tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 1 tháng 4 năm 1953. Ngày 1 tháng 11 cùng năm mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được chọn về đơn vị Bộ binh tham gia mặt trận Atlante tại Tuy Hòa, Phú Yên với chức vụ Đại đội trưởng trong Tiểu đoàn 607 khinh quân. Đầu năm 1954, ông được thăng cấp Trung úy và được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 607.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Cuối tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã cải đổi danh xưng Quân đội Quốc gia thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Rồi những biến đổi về mặt chính trị, danh xưng Quốc gia Việt Nam được chuyển thành Việt Nam Cộng hòa dưới chính thể Cộng hòa Đệ nhất. Tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm sĩ quan Tùy viên cho Tổng thống Ngô Đình Diệm. Giữa năm 1956, ông được thăng cấp Thiếu tá chuyển ra Cao nguyên Trung phần giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Cơ quan Quân sự Kontum. Đầu năm 1958, ông được cử đi Hoa Kỳ du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp (Command and General Staff) tại Học viện Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas và khóa Hành chính Dân sự vụ (Civil Affairs and Military Government) tại Fort Gordon, Tiểu bang Kentucky.

Đầu năm 1959, sau khi từ Mỹ về nước ông được chuyển đến phục vụ tại trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, lần lượt qua 2 vị Chỉ huy trưởng là Thiếu tướng Lê Văn Kim và Đại tá Trần Ngọc Huyến[2] (thời kỳ các khóa học có thời gian huấn luyện và đào tạo 4 năm). Ông được cử làm Liên đoàn trưởng Liên đoàn Sinh viên Sĩ quan các khóa: 14 Nhân Vị, 15 Lê Lợi, 16 Ấp Chiến Lược, 17 Lê Lai và 18 Bùi Ngươn Ngãi.[3]

Cuối năm 1961, ông được chuyển về Phủ Tổng thống giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội Cận vệ kiêm Trưởng ban An ninh thay thế Thiếu tá Hoàng Đình Tư.[4]

Đầu tháng 11 năm 1963, trong cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm của Hội đồng Quân nhân Cách mạng do tướng Dương Văn Minh cầm đầu. Ông đứng về phía chống lại quân đảo chính nên bị bắt giam. Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1 của tướng Nguyễn Khánh, ông được trả tự do và được trở lại Quân đội đồng thời bị thuyên chuyển về Sư đoàn 7 Bộ binh thuộc Quân đoàn IV.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1965, ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 12 thuộc Sư đoàn 7 do Chuẩn tướng Nguyễn Viết Thanh làm Tư lệnh. Đến năm 1968, ông được cử theo học khóa 1 Cao đẳng Quốc phòng tại Sài gòn. Tháng giêng năm 1969, ông được thăng cấp Đại tá và được cử làm Tham mưu trưởng Quân đoàn IV & Vùng 4 Chiến thuật, lần lượt dưới quyền Tư lệnh của các Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh (7/1968-5/1970), Ngô Dzu (5/1970-8/1970), Ngô Quang Trưởng (8/1970-5/1972) và Nguyễn Vĩnh Nghi (5/1972-11/1974).

Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Cuối tháng 10 năm 1973, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Trần Bá Di được cử giữ chức Tư lệnh phó Quân đoàn IV & Quân khu 4. Ông ở chức vụ này cho đến cuối tháng 4 năm 1975.

  • Sư đoàn 9 Bộ binh vào thời điểm tháng 4/1975, nhân sự ở Bộ tư lệnh Sư đoàn và các Chỉ huy Trung đoàn được bổ nhiệm như sau:
    -Tư lệnh - Chuẩn tướng Huỳnh Văn Lạc
    -Tham mưu trưởng - Đại tá Phạm Văn Ven[5]
    -Chỉ huy Pháo binh - Trung tá Võ Văn Sáng
    -Trung đoàn 14 - Đại tá Lê Văn Năm[6]
    -Trung đoàn 15 - Đại tá Phan Thế Thường[7]
    -Trung đoàn 16 - Trung tá Trần Xuân Hải

1975

Cũng như một số tướng lãnh trên và đồng cấp. Trước và trong ngày 30 tháng 4 với phương tiện sẵn có, ông và gia đình có thể dễ dàng ra nước ngoài định cư nhưng vì tình "huynh đệ chí binh", ông ở lại với chiến hữu và chấp nhận tù đày 13 năm ròng rã (từ 1975 đến 1988).

Ông cũng không thể tuẫn tiết như các Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam và Phạm Văn Phú, các Chuẩn tướng Lê Văn HưngLê Nguyên Vỹ và Trần Văn Hai vì đức tin của người Công giáo không cho phép (ông là cựu tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế).

Tháng 2 năm 1994, ông cùng gia đình xuất cảnh theo diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh, định cư tại Sacramento, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Gia đình

  • Thân phụ: Cụ Huỳnh Hiển
  • Thân mẫu: Cụ Nguyễn Thị Vịnh
  • Phu nhân: Bà Lê Tuyết Mai
Ông bà có 4 người con (2 trai, 2 gái):
Huỳnh Mai Long, Huỳnh Mai Phong, Huỳnh Thị Mai Hương, Huỳnh Thị mai Liên.



CÁO PHÓ
Ông Phao-lô HUỲNH VĂN LẠC
-Cựu Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh QLVNCH.
-Cựu sinh viên khóa 3 (Khoá Đống Đa) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.
-Cựu Trưởng Ban An Ninh, kiêm ĐĐT Đại Đội Cận Vệ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
-Cựu Đệ Tử Dòng Chúa Cứu Thế.
Sinh ngày 27 tháng 02 năm 1927 tại Phú Yên, Tuy Hòa, Việt Nam
Là người cha, người ông kính yêu của chúng tôi, đã được Chúa gọi về với Ngài vào lúc 11:40 sáng, Thứ Sáu, ngày 02 tháng 01 năm 2026, tại Sacramento, California.
Hưởng Đại Thọ 99 tuổi

Giờ Thăm Viếng & Cầu Nguyện:
Ngày 6 tháng 2 năm 2026
-4:30pm – 6:30pm: Thăm viếng và chia sẻ
-6:30pm – 7:10pm: Cộng đoàn GX Các Thánh Tử Đạo, PT Canh Tân Đặc Sủng
-7:15pm -7:55pm: Hội Legio Mariae, PT Cursillo, TTGD Thánh Giuse
-Địa chỉ: Nghĩa Trang Saint Mary - 6509 Fruitridge Rd, Sacramento, CẠ95820

Thánh Lễ An Táng:
Được cử hành lúc 10:00AM Thứ Bảy ngày 7 tháng 2 năm 2026
Nhà thờ Các thánh Tử Đạo Việt Nam, Sacramento, California
Địa Chỉ: 8181 Florin Rd, Sacramento, CA 95828
Sau Thánh Lễ, linh cữu sẽ được đưa về hỏa táng tại Nghĩa Trang Saint Mary

Tang Gia Trân Trọng Kính Báo
● Trưởng Nữ: Huỳnh Mai Hương và gia đình
● Thứ Nữ: Huỳnh Mai Liên và gia đình
● Thứ Nam: Huỳnh Mai Phong và gia đình
● Dưỡng Nữ: Võ Thanh Loan và gia đình

Phúng Điếu
(*) Theo di nguyện của Ông, xin miễn vòng hoạ Tất cả tiền phúng điếu sẽ được chuyển đến quỹ hỗ trợ Thương Phế Binh VNCH tại Việt Nam.

Tiểu Sử Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc

Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc
(sinh ngày 27 tháng 2 năm 1927 tại Phú Yên, Trung Kỳ – qua đời tại California, Hoa Kỳ)
Là một tướng lĩnh Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội, đặc biệt tại Quân đoàn IV – Quân khu IV.
Ông xuất thân từ Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, nhập ngũ năm 1953, phục vụ liên tục 22 năm cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, và được thăng cấp Chuẩn tướng vào tháng 11 năm 1972.

Binh nghiệp:
Sĩ quan Tùy viên Tổng thống Ngô Đình Diệm (1955–1956)
Chỉ huy trưởng Cơ quan Quân sự Kontum (1956–1958)
Liên đoàn trưởng Liên đoàn Sinh viên Sĩ quan, Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (1959–1961)
Đại đội trưởng Đại đội Cận vệ – Trưởng ban An ninh Phủ Tổng thống (1961–1963)
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 12, Sư đoàn 7 Bộ binh (1965–1968)
Tham mưu trưởng Quân đoàn IV & Vùng 4 Chiến thuật (1969–1973)
Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh (10/1973 – 30/4/1975)
Trong giai đoạn cuối của Việt Nam Cộng hòa, ông là Tư lệnh sau cùng của Sư đoàn 9 Bộ binh, cùng chiến hữu trấn giữ miền Tây Nam phần trong những ngày tháng khốc liệt nhất của cuộc chiến.
Sau biến cố 1975
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, dù có điều kiện ra đi, ông chọn ở lại cùng chiến hữu, chấp nhận 13 năm tù đày (1975–1988).
Vì đức tin Công giáo và căn bản đạo hạnh (ông từng là cựu tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế), ông không chọn con đường tuẫn tiết, mà âm thầm gánh chịu số phận của người bại trận với khí tiết và lòng trung thành.
Năm 1994, ông cùng gia đình sang Hoa Kỳ định cư theo diện H.O, sống tại Sacramento, California cho đến cuối đờị.

Gia đình
Thân phụ: Cụ Huỳnh Hiển
Thân mẫu: Cụ Nguyễn Thị Vịnh
Phu nhân: Bà Lê Tuyết Mai
Các con: 4 người (2 trai, 2 gái)

Kết
Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc là hình ảnh tiêu biểu của một người lính Việt Nam Cộng hòa:
Trung thành với Tổ quốc,
Thủy chung với chiến hữu,
Sống trọn danh dự của một sĩ quan, từ chiến trường đến lao tù và đời sống lưu vong.
Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương sâu sa trong gia đình, thân hữu và cộng đồng cựu quân nhân Việt Nam Cộng hoà


Man Dai

Hôm nay 14/8/2023 Liên Hội Cựu Quân Nhân QL. VNCH Sacramento gồm các Chiến Hữu Võ Bị, Chiến Tranh Chính Trị, Thủ Đức, Đồng Đế, TQLC, BÐQ, SĐ9 đến thăm Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ binh.
Ông sắp qua tuổi 98.
Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc (Cựu Tư – Lệnh Sư Đoàn 9 BB từ 1973 – 1975)

Tướng Huỳnh – Văn – Lạc, trước khi về làm Tư – Lệnh Sư – Đoàn 9/BB, vùng đồng bằng sông Cửu – Long, trách nhiệm các tỉnh : Châu -đốc, An – giang, Kiến – phong, Sa – đéc… Ông là Tham – Mưu -Trưởng của Quân – Đoàn IV & Quân – Khu IV. Tướng Huỳnh -Văn – Lạc người Mằng- Lăng, quận Tuy – An, tỉnh Phú – Yên, nghe nói ông là người Tu – Xuất (?) từ Nhà -Dòng.
Tôi rất hân hạnh có thời gian dài làm việc dưới quyền Ông, tuy không trực tiếp. Vì tôi ở cấp Tiểu đoàn, qua Trung đoàn, rồi mới tới Sư đoàn. Nhưng thói thường, người cấp dưới hay nhìn và tìm hiểu người cấp trên. Tôi, cũng vậy. Theo chỗ tôi biết , Tướng Huỳnh – Văn – Lạc hiền lành và không hề tai tiếng về những chuyện lem nhem … Lúc còn làm Tư Lệnh Sư Đoàn Ông rất quan tâm đên đời sống anh em và gia đình binh sĩ. Nghe nói có lần Ông ra đơn vị hành quân, thấy anh em binh sĩ có một số ăn mặc thiếu thốn, Ông đã ta thán: ” Thiệt là không có quân đội nào nghèo khổ như quân đội ta!!”
Rồi ngày đau thương của dân tộc ập đến, ngày VNCH thất thủ, tôi cũng ở tù chung với Ông ở trại Quân – Lao Cần – Thơ. Tôi ở cách Ông hơi xa, khu trong, khu ngoài, có khi tôi cũng đến thăm Ông. Ông rất phiền muộn vì vận nước nổi trôi! Tôi cấp nhỏ, dưới rất xa chỉ biết ngậm ngùi …! Và, trong bước đường gian nan đăng đẳng cái gọi là Học Tập Cải Tạo cũng có khi nghe nói về Ông, mà ai nói, tại đâu cũng không nhớ nữa, là khi ở trong những trại tù của VC, Ông từng than rằng :”Nhục quá , muốn tự tử cho rôì, nhưng vì có Đạo”.
Cho đến khoảng tháng 6 năm 1976, hầu hết tù Chính Trị trong Nam đều chuyển ra cái gọi là Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, thì trại tù ở quân lao Cần Thơ ( giam từ cấp Thiếu Tá đến Thiếu Tướng ) cũng chung số phận. Ông bị chuyển vùng trại cấp Tướng như là Ba Sao, Nam Hà…Phần tôi bị lưu đày tới vùng Việt Bắc Sơn La Nghĩa Lộ… Rừng núi trùng trùng… với đói lạnh kinh hoàng mà phải ” lao động vinh quang “….
Từ ấy, Ông và tôi chưa hề gặp lại nhau. Khi nghe tin Ông mới qua Mỹ khoảng năm 1996(?), tôi có tìm gọi phôn thăm Ông một lần, sau đó số phôn đổi khác và mất liên lạc!!
Hôm nay, tình cờ đọc lại trang báo cũ ( vì cắt xén còn chút xíu nên không rõ tên báo ), do anh bạn cùng ở tù trại Thanh – Cẫm (1979 – 1782), anh Phạm – Văn – Tiến ở Seattle ( tiểu bang Washington ) gửi cho. Trong trang báo có mục ” BƯỚC PHONG TRẦN CỦA TƯỚNG ” , tác giả Vũ – Văn – Quý có kể lại chuyện liên hệ với cấp trên của tôi là Chuẩn – Tướng HUỲNH – VĂN – LẠC, tôi mạn phép tác giả trích đoạn liên quan nguyên văn như sau:
“- Trở lại câu chuyện của Tướng Lê – Minh – Đảo. Chắc ông biết rõ vụ Tướng Huỳnh – Văn – Lạc đưọc trại mời ra nói chuyện để giao công tác gặp phái đoàn ngoại quốc. Việt Cộng thấy không lay chuyển được Tướng cao bồi Lê – Minh – Đảo nên thấy Tướng Lạc hiền lành như một thầy tu, tưởng dể sai khiến. Tướng Lạc được hứa hẹn, khi gặp phái đoàn ngoại quốc chỉ cần nói một câu là: trước kia ông đã từng bắn vào dân chúng thì sẽ được ghi tên” tha “ngay tức thời. Nhưng đã bị ông thẳng thắng từ chối.
Tướng Lạc từ tốn nói: “-Tôi không thể nói dối.Tôi không thể làm gương xấu cho bạn bè, cho thuộc cấp của tôi đang cải tạo ở đây. Các ông muốn bắn bỏ tôi, xin cứ việc bắn ”
Ngoài ra, cũng trong tiểu đề ” BƯỚC PHONG TRẦN CỦA TƯỚNG “, tác giả Vũ – Văn – Quýcó viết một đoạn, xin phép trích nguyên văn : ” Tập thể tướng lãnh bị giam giữ trong tù đều là những người rất xứng đáng, sống trong những năm tháng đen tối ngụp lặn dưới đường hầm cải tạo gần như mịt mùng vô định, cho dù chịu đói, chịu rét, lao động khổ cực và thiếu thăm nuôi tiếp tế, các vị ấy vẫn giữ được phong độ, vẫn giữ được cốt cách của những người làm tướng. Một chén canh rau rừng, một củ khoai hay khúc sắn, lúc nào cũng chia xẻ no đói chan hoà, đùm bọc thưong yêu nhau trong tình ” huynh đệ chi binh”. Tôi thường nghe các vị dặn dò nhau”- Những con mãnh hổ ở ngoài rừng hay bị nhốt trong cũi sắt, luôn luôn vẫn là cọp chứ không thể thay hình đổi dạng thành con chó được.” ( hết trích )
Kính thưa quí độc giả, hôm nay tôi viết tiểu truyện này với những mục đích:
Một là để bày tỏ lòng kính mến của tôi đối với cấp trên cũ của tôi là Tướng HUỲNH – VĂN – LẠC cùng hầu hết quí tướng lãnh khác, trừ những tên: DVM, NCK…
Hai là để các cháu Thanh Thiếu Niên thế hệ sau hiểu rõ thêm rằng qúi vị Tướng Lãnh trong Quân lực VNCH rất xứng đáng để được trân trọng tôn vinh chứ không phải tệ hại như VC tuyên truyền xuyên tạc và bóp méo sự thật!!
Trong niềm kính mến vị Tư Lệnh cũ Tướng Huỳnh Văn Lạc, tôi xin kết thúc tiểu truyện với bài thơ nhỏ:
Sĩ Khí
Núi Sông điên đảo chẳng đành tu
Khoác mảnh chiến y quyết diệt thù
Tuấn mã cùng đồ đành thúc thủ
Vào tù… sĩ khí chính là tu…!!
Sau hết, cũng xin ô. Vũ – Văn – Quý , tác giả bài báo “BƯỚC PHONG TRẦN CỦA TƯỚNG” thứ lỗi cho tôi v/v trích đoạn bài viết mà không xin phép trước.
Trân trọng.
Nguyễn Minh Thanh