Monday, June 29, 2026

Trung tướng Trần Văn Trung

Đỗ Xuân Tê

Tôi nhớ khi thông báo với các chiến hữu trong ngành về tình trạng nguy kịch của tướng Trần Văn Trung khi nằm tại một bệnh viện tại Paris trước lễ Phục sinh, anh Lê Trung Hiền có viết mấy dòng sau:

Trung Tướng Trần Văn Trung, theo nhận định của chúng tôi, những quân nhân đã phục vụ nhiều năm tại Tổng cục Chiến Tranh Chính Trị, không phải là thánh, nhưng là một vị chỉ huy trưởng, một tướng lãnh QLVNCH đức độ và liêm chính, rất đáng kính trọng và quí mến.

Sự đánh giá chân tình và khách quan của người sĩ quan dưới quyền cũng là cách nhìn của đông đảo anh em chúng tôi, trong ngành nói riêng và các chiến hữu một thời sát cánh trong quân lực VNCH nói chung. Nếu vinh danh ông trong lễ phủ cờ một khi ông qua đời thì với tư cách một tướng lãnh, ông xứng đáng được tán tụng như một trong những khuôn mặt lãnh đạo có nhân cách lớn, một ông tướng vừa sạch, vừa đức độ, hết lòng phục vụ cho lý tưởng quốc gia và tập thể quân đội mà ông là một thành viên có mặt đến giờ phút chót của cuộc chiến.

Nay bệnh tình dù có qua cơn hôn mê, nhưng sức khoẻ cũng đã ở tuổi gần chín chục, tôi muốn viết ít hàng về ông chủ yếu là nhắc lại vài giai thoại về ông tướng đầu ngành để nếu bài viết có đến tay ông thì cũng là một điều an ủi, chí ít cũng có những đàn em, thuộc cấp còn nhớ đến ông trong niềm kính trọng, dù thế thái nhân tình có đảo lộn, quân đội có tan hàng, đất nước có sang trang.

Mười năm trùng hợp với nền đệ nhị cộng hòa dưới triều Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, người ta biết nhiều đến một khuôn mặt tướng lãnh: tướng ba sao Trần Văn Trung. Ông nổi tiếng vì đứng đầu một cơ quan đầu não về tinh thần của quân lực VNCH suốt mười năm liền, lại có bà vợ cựu hoa khôi nữ trung học Đồng Khánh (Huế). Hai người hay xuất hiện cặp đôi trong các Đại hội Nhạc trẻ tại Thủ đô nhân dịp gây quĩ Cây Mùa Xuân cho các chiến sĩ vào các năm chiến trường cao điểm cuối 60 đầu  thập niên 70, với sự tham dự của cả chục ngàn giới trẻ Sài gòn tại các tụ điểm sân vận động Hoa lư và Thảo cầm viên.
Nhìn dáng vẻ bề ngoài với cặp kính trắng trên khuôn mặt đượm nét trí thức của một người ở tuổi 40 khi ông vừa đeo một sao và mới về nhậm chức Tổng Cục Trưởng CTCT, nhiều người không nghĩ ông là ông tướng. Nhìn bà ở lứa tuổi kém ông cả mười năm, người ta phải nhìn nhận bà có sắc đẹp sắc sảo, thon cao, đậm nét Tây phương. Trước đó nhiều năm ông có làm Tùy viên quân lực tại Tòa Đại Sứ VNCH tại Paris, nên trong lối giao lưu đời thường, hai ông bà rất lịch thiệp, cởi mở, mang phong cách ngoại giao hơn là những người đơn thuần trong gia đình binh nghiệp.

Cũng có thời có lời đồn thổi bà Hoài Nam thiên Cộng vì có bà mẹ nuôi là bà Tuần Chi, cựu hiệu trưởng trung học Đồng Khánh, người đã cùng thượng tọa Thích Đôn Hậu ra bưng theo Việt Cộng hồi Mậu Thân ở Huế. Thực chất phu nhân tướng Trung rất hiểu những người Cộng sản, lại có ý thức chính trị độc lập và chẳng ảnh hưởng gì khi có người trong gia đình theo phía CS. Ngược lại người ta hay khen bà có tướng vượng phu. Gần như vậy nếu ai tin tướng số. Trong cuộc đời làm tướng, ông chỉ một lần đảm nhiệm chức vụ tiểu đoàn trưởng (tiểu đoàn khinh binh số 27 đầu tiên của quân đội quốc gia hay hành quân trên vùng châu thổ sông Hồng), về sau theo nhu cầu phát triển của quân đội, ông chuyển sang làm các công tác tham mựu cao cấp tại Bộ Tổng Tham Mưu. Ông cũng có duyên với ngành quân huấn, có lần đã chỉ huy quân truờng võ khoa Thủ Đức, nơi đào tạo hàng chục ngàn sĩ quan trừ bị cho quân đội quốc gia. Khi chiến tranh đi vào cuộc đọ sức giữa hai ý thức hệ thì ông được chuyển về làm Tổng cục trưởng Tổng cục CTCT, một cơ quan mà mô hình tổ chức của nó bắt chước quân đội Trung hoa Dân quốc, nắm toàn bộ các công tác an ninh, tâm lý chiến, chính huấn, xã hội, quân tiếp vụ, văn hóa văn nghệ, báo chí và tuyên úy quân đội.

Có người nói ông là người của tướng Thiệu nên mới được giao một chức vụ nhiều quyền lực như vậy, thực chất hai ông là bạn cùng khóa võ bị Đập Đá (tiền thân của Khóa 1 Đà Lạt), vì tin cậy nhau trong thời buổi dễ có binh biến, lại biết tướng Trung không có mưu đồ chính trị và tham vọng cá nhân, nên tông tông đã buộc chân ông vào chức vụ này cho đến ngày tàn cuộc. Nói cho ngay cũng chẳng ông tướng nào có khả năng thích hợp hơn, nên khi được tín nhiệm trong trách nhiệm đầu ngành cũng một phần ông là con người luôn vì đại cuộc và chấp hành theo đúng vị trí của người lính. Chính ông cũng muốn giữ thế phi đảng phái trong quân đội, ông không để cho việc sử dụng các phương tiện của quân đội cho bất cứ liên danh nào, kể cả hai ông Thiệu-Kỳ. Ông Thiệu cũng không thể tổ chức hệ thống đảng trong quân đội miền Nam mà phải lấy đội ngũ giáo viên làm nồng cốt cho Đảng Dân Chủ của ông thông qua người cùng xứ là một Bộ truởng Giáo dục.

Về trình độ, tướng Trung là người có khả năng viết và nói, lại giỏi ngoại ngữ và thích đọc. Gần như những diễn văn hoặc huấn thị viết cho các lãnh đạo từ tổng tư lệnh đến tổng tham mưu trưởng trong các dịp lễ lớn đều có chấp bút của ông, riêng các diễn từ của riêng ông, ông viết lấy. Các văn thư tham mưu quan trọng, các kế hoạch, đề án nhằm nâng cao tinh thần binh sĩ hoặc phát động các chiến dịch địch vận hóa giải tuyên truyền của đối phương, ông không chỉ là người cho ý kiến mà tự tay chỉnh sửa, thêm bớt cho hoàn chính trước khi phổ biến đến các đơn vị để thi hành. Là người đứng đầu cơ quan phát ngôn của quân đội, nhưng ông ít khi xuất hiện trong các cuộc họp báo, rất thận trọng khi phát ngôn, đặc biệt những vấn đề nhạy cảm báo chí cần khai thác, nhất là dưới thời ông Thiệu rất nhiều vụ việc gây tai tiếng làm nản lòng chiến sĩ.


Nhưng ông cũng biết lắng nghe dư luận quần chúng và tập thể chiến sĩ. Bản tin đầu tiên trong ngày trên bàn làm việc là mục Điểm báo quốc phòng, soạn riêng cho ông để vừa nắm tình hình chiến sự vừa xem báo chí truyền thông họ nói gì, để từ đó chủ động sửa sai, nhưng kết quả cũng  chỉ là hạn chế khi thực chất các tướng chỉ huy chiến trường vẫn có thói quen rừng nào cọp nấy, hùng cứ nhất phương và các cán bộ CTCT cấp quân khu tiểu khu phải bó tay, không thể sánh với cán bộ chính trị của đối phương khi họ kiêm luôn cấp ủy tay chân của Đảng.

Có một điều thú vị là dưới thời ông về tổng cục ngành CTCT đã chọn danh nhân Nguyễn Trãi làm Thánh tổ cho ngành. Nhân vật lịch sử đã soạn Bình Ngô Đại Cáo với câu  danh ngôn lấy chí nhân thay cường bạo/đem đại nghĩa thắng hung tàn và các khóa đào tạo SVSQ hiện dịch cho truờng Đại học CTCT đều lấy các danh  hiệu Nguyễn Trãi 1. NT2, NT3…Ngẫu nhiên có sự trùng hợp là phe Hà-nội họ cũng vinh danh Nguyễn Trãi làm danh nhân văn hóa, xếp cao hơn cả Nguyễn Du về văn học. Khi xóa sổ chế độ miền Nam, họ lên án ngành của tướng Trung đã phạm một tội ác là dám lấy nhân vật này làm thánh tổ, nhưng khi hằn học đọa đầy những người thua cuộc họ có biết đâu chính Nguyễn Trãi đã viết, “hận thù rồi kêu gọi trả thù thì oán mãi không thôi”.

Nhớ lại đêm 29 khi tiếng động cơ trực thăng của TQLC Mỹ nổ đều trên nóc tòa đại sứ Mỹ để vội vàng đưa những người di tản cuối cùng ra hạm đội 7 trước khi cuốn cờ, thì tuớng Trung vẫn bận rộn với những cú điện thoại tại văn phòng của ông, nằm ngay cạnh sứ quán Mỹ. Lúc này nội dung các cuộc nói chuyện không còn là những vấn đề chiến sự, mà thực chất ông muốn xem giờ tàn cuộc sẽ theo chiều hướng nào.  Vốn thân với Đại sứ Pháp tại Sài gòn, ông được ông Méreìllon đoan chắc sẽ có một giải pháp cho vấn đề Việt Nam, thuận lợi cho cả bốn bên. Đại để miền Nam sẽ trung lập, ranh giới có thể mất Huế và mấy tỉnh miền Trung. Chuyện Sài gòn đổ máu là không thể có. Quá nửa đêm, ông sốt ruột lại thăm dò bên văn phòng Dương Văn Minh, nơi đây cho biết phía Bắc Việt đổi ý. Giải pháp do Đại sứ Pháp làm trung gian không thành. Sài gòn thực sự đi dần vào hôn mê. Vũ Văn Mẫu cho phát lời đuổi Mỹ ra khỏi nuớc, chuẩn bị cho tiến trình buông súng của phe miền Nam vào sáng hôm sau.


Sáng 30, tướng Trung nhận được lệnh trở lại Bộ TTM để họp với tướng Vĩnh Lộc,Tổng tham mưu trưởng giờ thứ 25 của miền Nam. Họp khoảng một tiếng, xuất hiện chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, ông này vừa được DVM cử làm Tham mưu trưởng liên quân. Viên tướng một sao tỏ lộ ngay trong phiên họp ông là người của…Mặt trận giải phóng. Sau đó nghe kể lại, hai tướng cấp cao nhất của quân lực VNCH và vài người nữa ra bến Bạch Đằng, lên một con tàu nhỏ của Hải quân trực chỉ Cần Giờ. Khi tàu còn trên sông Lòng Tảo, cũng là lúc Dương Văn Minh kêu gọi tập thể chiến sĩ của ta buông súng. Con tàu đi thoát, tướng Lộc vào Mỹ (ông mới mất cách đây vài năm), tướng Trung đi định cư tại Pháp, nơi ông có mối quan hệ lâu đời từ ngày làm việc tại Sứ quán VNCH ở Paris.

Ra hải ngoại, ông hiểu thời và thế, ông sống ẩn dật tại vùng ngoại ô Paris. Nhưng nỗi hoài niệm về một thời Sài gòn vang bóng vẫn thôi thúc trăn trở trong ông. Ông vẫn đứng sau cộng đồng người Việt hải ngoại tại Pháp và tích cực hỗ trợ các hoạt động của tổ chức này trong các cao trào đấu tranh nhân quyền và tự do đích thực cho Việt Nam. Ông tham dự đều đặn Ngày Quân lực mỗi năm và Lễ Chiến sĩ trận vong của Pháp. Qua báo chí hải ngoại, họ hay đưa tin và hình ảnh ông đăng đàn phát biểu rất sâu sắc trong những dịp lễ này.

Ghi lại ít giai thoại và đôi điều tôi biết về ông không nhằm tâng bốc chân dung một vị tướng một thời chúng tôi phục vụ dưới quyền, mà trong thiện ý chỉ muốn chia sẻ góc nhìn về một phần đời của ông  khi chính ông cũng như chúng tôi là chứng nhân của tấn bi kịch lịch sử còn phải nhắc nhớ nhiều những thập niên sau.

Đỗ Xuân Tê

Trần Văn Trung Chân Dung Một Vị Tướng Khác Biệt

Sunday, June 28, 2026

Tiểu Sử Trung Tướng Trần Văn Trung


Trần Văn Trung (sinh năm 1926) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia được Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Trung Việt Nam. Khi còn là một sĩ quan cấp úy ông chỉ có một lần chỉ huy đơn vị tác chiến (Tiểu đoàn trưởng). Sau này ông đảm nhiệm những chức vụ Trưởng ban, Phòng hoặc Chỉ huy trưởng các Trường, Cục chuyên về đào tạo và yểm trợ; nên ông còn được mệnh danh là "Tướng Văn phòng". Nhìn bề ngoài ông có phong cách là một "nhà giáo" hơn là một vị tướng. Ông cũng là một Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng đặc trách Chiến tranh Chính trị (Tổng cục trưởng) với thời gian lâu nhất (1966-1975). Cũng là thời gian Đại tướng Cao Văn Viên giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng.

Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 14 tháng 2 năm 1926 trong một gia đình Nho giáo tại Hương Trà, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Thuở nhỏ ông là học sinh trường Tiểu học Hương Trà, sau đó học ở trường Trung học Tư thục Thuận Hóa, Huế. Năm 1945, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông tại Huế với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Được bổ dụng làm công chức ngoại ngạch tại Huế một thời gian ngắn tước khi gia nhập Quân đội.

Quân đội Liên hiệp Pháp

Cuối tháng 9 năm 1948, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 46/200.975. Theo học khóa 1 Bảo Đại (sau cải danh thành khóa Phan Bội Châu) tại trường Võ bị Huế,[2] khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948. Ngày 1 tháng 6 năm 1949 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[3] Ngay sau khi ra trường ông được cử đi tu nghiệp khóa căn bản Bộ binh tại trường Võ bị Saint Cyr, Pháp.

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Năm 1950, sau khi mãn khóa về nước, ông phục vụ Quân đội Quốc gia và được cử làm Trung đội trưởng trong đơn vị Bộ binh. Qua năm 1951, ông tiếp tục được cử đi học và tốt nghiệp Thủ khoa khóa Chỉ huy và Chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà Nội.[4] Cùng năm ông được thăng cấp Trung úy, được cử làm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Địa phương Trung Việt[5] Đầu năm 1954, ông được thăng cấp Đại úy và được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 khinh binh Việt Nam hoạt động trên vùng châu thổ Sông Hồng. Sau hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, ông cùng Tiểu đoàn di chuyển vào Nam.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Tháng 11 năm 1955, sau khi chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá, vẫn tiếp tục làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27. Đầu năm 1957, ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý thuộc Bộ Quốc phòng kiêm Trưởng phòng 5 thuộc Bộ Tổng Tham mưu thay thế Trung tá Nguyễn Phước Đàng.[6] Tháng 10 cùng năm, ông được cử đi làm Tùy viên Quân sự ở Pháp thay thế Trung tá Quách Xến.[7] Tháng 10 năm 1958 ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Tháng 10 năm 1960, mãn hạn Tùy viên Quân sự, về nước ông được cử làm Thanh tra Thanh niên khu vực bắc Cao nguyên Trung phần. Đầu năm 1963, ông được cử làm Tham mưu phó Nhân viên thuộc Bộ Tổng tham mưu. Sau cuộc Chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964 của tướng Nguyễn Khánh. Đầu tháng 2, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Đà Lạt thay thế Thiếu tướng Trần Tử Oai. Tháng 6 cùng năm bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Võ bị lại cho Chuẩn tướng Nguyễn Văn Kiểm, để tái nhiệm chức vụ Tham mưu phó nhân viên kiêm Trưởng phòng 1 Bộ Tổng tham mưu.

Đầu năm 1965, ông được cử làm Trưởng phòng Tổng quản trị Bộ Tổng tham mưu thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn.[8] Thượng tuần tháng 2, bàn giao chức vụ Trưởng phòng Tổng quản trị lại cho Đại tá Bùi Đình Đạm. Trung tuần tháng 2 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức thay thế Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn đi làm Tư lệnh Biệt Khu 24, Kontum. Ngày kỷ niệm 2 năm ngày Cách mạng thành công 1 tháng 11 cuối năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.[9]

Thượng tuần tháng 12 năm 1966, bàn giao chức Chỉ huy trưởng trường Bộ binh lại cho Thiếu tướng Bùi Hữu Nhơn, để đi nhận chức Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Tháng 7 năm 1971, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

1975

Trưa ngày 30 tháng 4, ông cùng vợ và các con nhỏ di tản bằng đường biển đến Vịnh Subic thuộc Philippines. Đến tháng 7 năm 1975, ông xin đi định cư tại Paris, Pháp.

Năm 1979, ba người con lớn của ông (gồm 2 trai, 1 gái) từ Việt Nam cùng sang Pháp đoàn tụ.

Huy chương

-Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (ân thưởng)
-Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu của VNCH
-Legion of Merit của Hoa Kỳ
-Văn huy Bội tinh (Cloud Medal) của Trung Hoa Quốc gia
-Security Medal của Đại Hàn Dân Quốc.

Chú thích

  1.  Tổng cục Chiến tranh Chính trị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu.
  2.  Khóa 1 Võ bị Huế còn được gọi là khóa 1 Võ bị Quốc gia Việt Nam
  3.  Tốt nghiệp khóa 1 Phan Bội Châu Võ bị Huế, sau này lên tướng còn có các Trung tướng Nguyễn Hữu Có, Tôn Thất Đính, Đặng Văn QuangNguyễn Văn Thiệu, các Thiếu tướng Nguyễn Văn ChuânTôn Thất Xứng, các Chuẩn tướng Phan Xuân NhuậnLê Trung Tường.
  4.  Tiền thân của trường Đại học Quân sự và trường Chỉ huy Tham mưu sau này.
  5.  Còn gọi là trường Sĩ quan Đập Đá, đặt trên cơ sở cũ của trường Võ bị Huế đã di chuyển về Đà Lạt. Trường Võ bị Địa phương Trung Việt tiếp tục Huấn luyện và đào tạo được 3 khóa sĩ quan hiện dịch nữa. Trong số sĩ quan tốt nghiệp của 3 khóa này về sau có 3 vị được lên tướng là Thiếu tướng Võ Văn Cảnh, Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp và Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ.
  6.  Trung tá Nguyễn Phước Đàng về sau giải ngũ cùng cấp.
  7.  Trung tá Quách Xến tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, giải ngũ ở cấp Đại tá.
  8.  Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1927 tại Sài Gòn, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau cùng là Đại tá Giám đốc Nha An ninh Hành chính trong Bộ Quốc phòng.
  9.  Trong thời gian Chỉ huy trưởng trường Bộ binh, ông đã tổ chức lễ mãn khóa cho các khóa: Khóa 20 tháng 12 năm 1965, Khóa 20 phụ tháng 4 năm 1966 và Khóa 21 tháng 8 năm 1966.
  10.  Đại tá Nguyễn Huy Hùng sinh năm 1929 tại Lạng Sơn, tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Huế
  11.  Đại tá Nguyễn Văn Thái tốt nghiệp khóa 2 Võ bị Huế
  12.  Đại tá Hoàng Đạo Thế Kiệt sinh năm 1931 tại Hà Đông, tốt khóa 1 Võ khoa Nam Định
  13.  Đại tá Nguyễn Lễ Trí sinh năm 1920 tại Cần Thơ, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt
  14.  Chiến tranh Chính trị
  15.  Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh sinh năm 1922 tại Hà Nam, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt

Tham khảo

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011), Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.








Tiểu sử Trung tướng TRẦN VĂN TRUNG,
Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Ông Sinh ngày 14-2-1926 làng Đốc Sơ, Quận Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên Việt Nam.
- 1936-1946: Huấn luyện văn hóa và tôn giáo tại Trung tâm Dòng Chúa Cứu Thế ở Huế (Giáo đoàn Đấng Cứu Thế, dưới Ngôi nhà Mẹ ở Montreal, Tỉnh Quebec, Canada).
- 1946: Trở lại cuộc sống bình thường.
- 1949:Tốt nghiệp Trường Võ Bị Huế với cấp bậc Thiếu Uý - Khoá Phan Bội Châu.(Khoá 1 Bảo Đại). Sau Trường được chính thức đổi tên thành Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN - VNMA).
- 1949-1950: Tu nghiệp Chương Trình Bộ binh tại trường Võ bị Coëtquidan (Saint Cyr) ở Pháp.
- 1951-1956;
*Tốt nghiệp Thủ khoá Chỉ Huy và Chiến thuật tại trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà nội, Đơn vị Chiến binh Quân khu 2 (Trung tâm Việt Nam).
* Chỉ Huy Trưởng trường Võ Bị địa phương Huế.
* Chuyên ngành và Bộ Tư lệnh Chiến thuật tại Hà Nội.
* Đại uý Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 Việt Nam.
* Là một thành phần của GM 21, tham gia hoạt động lâu dài ở các tỉnh miền Nam và vùng cao nguyên của Việt Nam, trước trận Điện Biên Phủ, GM 21 là một nhóm Franco Mixed Mobile Việt Nam (Cơ Động Hổn hợp Việt Pháp), thành lập trong 3 tiểu đoàn bộ binh bao gồm, 2 Tiểu đoàn người Việt Nam và hỗ trợ bằng các phương tiện như Pháo binh và Không yểm... để có sự chủ động lớn hơn trong các mặt trận. Đó là một đơn vị yểm trợ tuyệt vời cho toàn bộ Quân khu 2.
- 1957: Lên Trung tá Chỉ định Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý của Bộ Quốc phòng, thay thế Trung Tá Nguyễn Văn Phẫm, kiêm Trưởng phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu.
Tháng 10 được Chỉ định Tuỳ viên Quân sự, tại tòa Đại sứ Việt Nam tại Pháp.
-1958 Được vinh thăng Đại tá tạm thời.
- 1960: Kết thúc nhiệm vụ ở nước ngoài - Thanh tra Thanh niên các tỉnh miền Bắc Trung nguyên Trung phần.
- 1962: Thăng chức Tham mưu Phó Nhân Viên Bộ Tổng Tham mưu.
- 1964: Chỉ Huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Ở Đà Lạt thay thế Thiếu Tướng Trần Tử Oai.
- 1965 Trở lại Làm Trưởng phòng Tổng quản trị Bộ Tổng Tham Mưu.
-Chỉ huy trưởng trường Bộ Bình Thủ Đức, thay thế Chuẩn Tướng Cao Hão Hớn.
- 01/11/1966 Vinh thăng Chuẩn Tướng Nhiệm chức.
-1966: Nhậm chức phụ tá Tổng Tham mưu Trưởng Bộ Tổng tham mưu kiêm tổng cục trưởng Tổng Cục CTCT (Chiến tranh Chính trị).
- 1968:Vinh thăng Thiếu tướng nhiệm chức.
-1969:Thăng Thiếu tướng Thực thụ.
- 1971: Thăng cấp lên cấp bậc Trung Tướng nhiệm chức. Những năm sau được vinh thăng Trung tướng thực thụ.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau mùa Xuân Sài Gòn vào một buổi sáng muộn, Trung Tướng Trần Văn Trung từ chức để lựa chọn một cuộc khởi hành vội vã từ giả Việt Nam, thông qua phương tiện eo hẹp và trong điều kiện khá bi quan...
Chiều 30-4-1975, chiếc tàu di tản đến gần đảo Côn Sơn và bị phá vỡ, chìm trên biển, tất cả hành khách của chiếc thuyền nhỏ bị nạn đã được tiếp cứu bởi một trong những chiến hạm của Hải quân Việt Nam Cộng hoà. Cuối cùng đoàn người di tản được tập trung và di chuyển sang Philippines.
Sau những ngày được hướng dẩn bởi Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà, họ đã đến Vịnh Subic. Trong khi ở sân bay Clark-Fields Manila, máy bay Không quân Mỹ đang chờ đợi với nhiệm vụ đưa toàn bộ quân nhân và dân sự di tản đến đảo Guam nhanh chóng. Sau đó thành lập các thủ tục nhập cư vào lảnh thổ Hoa kỳ…
Tại một trong những trung tâm tiếp cư ở Guam, Trung Tướng Trung đã gặp lại vợ với Pascal Tri Thi, đứa con út 2 tuổi của họ. Cuộc hội ngộ diễn ra với rất nhiều cảm xúc.
Đúng vậy, Bà Trần Văn Trung và con của họ đã được Đại sứ quán Mỹ di tản vào đêm 29 tháng 4. Lúc bấy giờ, họ đang chờ đợi để đi định cư tại Hoa Kỳ.
Nhưng không giống như mọi dự tính di tản, đó là đi Mỹ như hầu hết các trường hợp, Tướng Trung quyết định sang Pháp, vì lý do đó là cách duy nhất để ông có thể liên lạc với ba đứa con lớn của ông bị kẹt ở Sài Gòn. Ba đứa trẻ đã không được đoàn tụ với cha mẹ chúng cho đến 1979, sau bốn năm dài xa cách và đau khổ!.
Đầu tháng 7 năm 1975, Trung tướng và gia đình đến Pháp, với mục đích định cư vĩnh viễn ở đó , và trở thành người tị nạn chính trị.
Ông bà định cư tại địa chỉ 42 rue Boucicaut, ở Fontenay-Aux-Roses, một thị xã ở ngoại ô phía tây nam Paris và Trung Tướng đã trải qua cuộc lưu vong của ông từ năm 1975 đến nay.
Trung Tướng Trần Văn Trung bây giờ tám mươi tám tuổi (Lời toà soạn: Khi viết bài này)
Huy Chương đã Nhận lảnh:
-Bảo Quốc Huân Chương đệ Tam đẳng.
-Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu và
các huy chương Quân, Dân sự khác của Việt nam Cộng Hoà.
-Huy chương Khen thưởng (Legion Merit) của Hoa Kỳ.
-Huy chương Vân Huy Bội tinh (Cloud Medal)
Của Trung hoa Dân Quốc (Đài Loan).
-Huy chương An ninh (Security Medal) Đại
Hàn Dân Quốc.

Lời Kết:
Đáng lưu ý rằng trong suốt thời gian tương đối lâu dài của mình tại Tổng Cục Chiến tranh Chính trị, Tướng Trần Văn Trung đã nỗ lực rất lớn trong các vấn đề quan trọng sau:

1) Ông đã đặt tầm quan trọng thiết yếu đối với giáo dục chính trị trong Lực lượng Quân sự, ở tất cả các đơn vị và ở mọi cấp độ. Giáo dục chính trị nhằm mục đích khai sáng các quân nhân về những giá trị lý tưởng và đạo đức để thấu hiểu, để khiến họ hiểu những lý do tại sao họ phải chiến đấu và chấp nhận hy sinh. Thực hiện lòng yêu nước và ý thức công việc của họ. Trong một cái hình thức bên ngoài, để củng cố tinh thần của quân đội cho cuộc đấu tranh.

2) Ông đã chiến đấu quyết liệt chống tham nhũng, nhằm gia tăng tiềm năng vật chất và tinh thần đạo đức cho quân đội.

3) Trung tướng đã thực hiện nhiệm vụ chăm sóc đặc biệt cho cuộc sống của các gia đình quân đội (Chương trình Gia binh).
-Với mạng lưới kinh tế quan trọng (Quân tiếp vụ), giao hàng tận tay cho các gia đình Binh sĩ, là các loại hàng hóa thường xuyên, cơ bản, như Gạo, Đường, Dầu, Sữa đặc, Thịt hộp, hay đông lạnh, hoặc Cá, Mì Ramen, Thuốc lá....Một vấn đề rất quan trọng để vượt qua sự bất an của gia đình Binh sĩ, sự bất an do đồng lương quá hạn chế của người lính!.
-Nhấn mạnh về Giáo dục, Ông đã cho quản lý một hệ thống thành lập văn hóa quan trọng: Mẫu giáo , Trường tiểu học, Cao đẳng... được thành lập ở tất cả các tỉnh thành, với đơn vị, để đảm bảo giáo dục trẻ em.
-Ông đã đoàn ngũ hoá Chương trình Hướng đạo sinh vào Quân đội. Trong 2 năm, Ông ấy đã tập trung gần 100.000 bé trai và bé gái ở tuổi Cub và Hướng đạo sinh để rèn luyện và chuẩn bị cho độ tuổi trưởng thành.
-Ông đã giới thiệu một chương trình Cách mạng trong Quân đội dưới tên gọi ′′NEW HORIZON" hay “Chân Trời Mới” nhằm hướng tới:
* Giảm thiểu những bất công trong Quân đội,
* Tất cả các quyền hợp pháp cho các chiến sĩ, quân nhân.
* Tăng cường hoạt động văn hóa, với nhiều hình thức khác nhau, để cuộc sống trở nên hấp dẫn hơn trong các đơn vị quân đội...
4) Cuối cùng, Chánh sách Chiêu hồi nên được giữ lại. Thật vậy, Tướng Trung đã rất tích cực trong các hoạt động truyền thông, với tất cả các phương tiện kỹ thuật có sẵn:
* Phát sóng liên tục, đêm và ngày, trên các đài phát thanh.
* Trong khu vực đối phương, chương trình phát thanh hàng đêm trên máy bay...,
* Rải phân phát hàng trăm triệu tờ truyền đơn và giấy tờ các loại...
* Phân phát các món quà khác nhau, bao gồm cả những loại máy phát sóng radio nhỏ, với tần suất cao, cài đặt sẵn trên máy truyền tin địa phương... Tất cả những hành động này đều nhằm mục đích gửi cho địch quân cộng sản, những thông tin có khả năng tuyên truyền và làm lung lạc tinh thần của địch quân...
Từ 1962 đến 1975, miền Nam nhận được tổng cộng 178.000 trường hợp Chiêu hồi từ các cấp bậc Cộng sản miền Bắc, trong số đó là các cán bộ cao cấp, ví dụ như Đại tá Tám Hà và Đại tá Lê-Xuân -Chuyên và Huỳnh-Cư, người mà Chính phủ đã giao phó cho các vị trí trách nhiệm trong việc Quản trị Chương trình Chiêu hồi này.
Có thể nói rằng, không có bất kỳ một sai lầm
rủi ro nào xảy ra. Chương trình Chiêu hồi đã đạt được những kết quả rất đáng kể, và nó đã đạt được một sự tiết kiệm đáng kể cho việc đổ xương máu , và giảm thiểu được sự mất mát tính mạng con người, trong Lực lượng quân sự của Việt Nam Cộng hòa.
Ba Lê năm 2014
(Tài liệu của NT Trần Văn Trung nhân sinh Nhật thứ 96 tuổi.)
-Tham khảo tài liệu Lược Sữ Quân Lực VNCH.
-Tham khảo tài liệu Cá nhân Cựu Trung Tướng TrầnVăn Trung (Pháp ngữ)
-Diễn đàn Võ Bị Việt Nam
-Tài liệu của NT Vĩnh Giám Nguyễn K19
- Source Ted Tao Nguyen 






Trần Văn Trung Chân Dung Một Vị Tướng Khác Biệt