Sunday, June 28, 2026

Tiểu Sử Trung Tướng Trần Văn Trung


Trần Văn Trung (sinh năm 1926) nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên tại trường Võ bị Quốc gia được Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Trung Việt Nam. Khi còn là một sĩ quan cấp úy ông chỉ có một lần chỉ huy đơn vị tác chiến (Tiểu đoàn trưởng). Sau này ông đảm nhiệm những chức vụ Trưởng ban, Phòng hoặc Chỉ huy trưởng các Trường, Cục chuyên về đào tạo và yểm trợ; nên ông còn được mệnh danh là "Tướng Văn phòng". Nhìn bề ngoài ông có phong cách là một "nhà giáo" hơn là một vị tướng. Ông cũng là một Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng đặc trách Chiến tranh Chính trị (Tổng cục trưởng) với thời gian lâu nhất (1966-1975). Cũng là thời gian Đại tướng Cao Văn Viên giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng.

Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 14 tháng 2 năm 1926 trong một gia đình Nho giáo tại Hương Trà, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Thuở nhỏ ông là học sinh trường Tiểu học Hương Trà, sau đó học ở trường Trung học Tư thục Thuận Hóa, Huế. Năm 1945, ông tốt nghiệp Trung học Phổ thông tại Huế với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Được bổ dụng làm công chức ngoại ngạch tại Huế một thời gian ngắn tước khi gia nhập Quân đội.

Quân đội Liên hiệp Pháp

Cuối tháng 9 năm 1948, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 46/200.975. Theo học khóa 1 Bảo Đại (sau cải danh thành khóa Phan Bội Châu) tại trường Võ bị Huế,[2] khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948. Ngày 1 tháng 6 năm 1949 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[3] Ngay sau khi ra trường ông được cử đi tu nghiệp khóa căn bản Bộ binh tại trường Võ bị Saint Cyr, Pháp.

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Năm 1950, sau khi mãn khóa về nước, ông phục vụ Quân đội Quốc gia và được cử làm Trung đội trưởng trong đơn vị Bộ binh. Qua năm 1951, ông tiếp tục được cử đi học và tốt nghiệp Thủ khoa khóa Chỉ huy và Chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà Nội.[4] Cùng năm ông được thăng cấp Trung úy, được cử làm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Địa phương Trung Việt[5] Đầu năm 1954, ông được thăng cấp Đại úy và được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 khinh binh Việt Nam hoạt động trên vùng châu thổ Sông Hồng. Sau hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, ông cùng Tiểu đoàn di chuyển vào Nam.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Tháng 11 năm 1955, sau khi chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá, vẫn tiếp tục làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27. Đầu năm 1957, ông được thăng cấp Trung tá và được cử làm Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý thuộc Bộ Quốc phòng kiêm Trưởng phòng 5 thuộc Bộ Tổng Tham mưu thay thế Trung tá Nguyễn Phước Đàng.[6] Tháng 10 cùng năm, ông được cử đi làm Tùy viên Quân sự ở Pháp thay thế Trung tá Quách Xến.[7] Tháng 10 năm 1958 ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Tháng 10 năm 1960, mãn hạn Tùy viên Quân sự, về nước ông được cử làm Thanh tra Thanh niên khu vực bắc Cao nguyên Trung phần. Đầu năm 1963, ông được cử làm Tham mưu phó Nhân viên thuộc Bộ Tổng tham mưu. Sau cuộc Chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964 của tướng Nguyễn Khánh. Đầu tháng 2, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Đà Lạt thay thế Thiếu tướng Trần Tử Oai. Tháng 6 cùng năm bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Võ bị lại cho Chuẩn tướng Nguyễn Văn Kiểm, để tái nhiệm chức vụ Tham mưu phó nhân viên kiêm Trưởng phòng 1 Bộ Tổng tham mưu.

Đầu năm 1965, ông được cử làm Trưởng phòng Tổng quản trị Bộ Tổng tham mưu thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn.[8] Thượng tuần tháng 2, bàn giao chức vụ Trưởng phòng Tổng quản trị lại cho Đại tá Bùi Đình Đạm. Trung tuần tháng 2 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức thay thế Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn đi làm Tư lệnh Biệt Khu 24, Kontum. Ngày kỷ niệm 2 năm ngày Cách mạng thành công 1 tháng 11 cuối năm, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.[9]

Thượng tuần tháng 12 năm 1966, bàn giao chức Chỉ huy trưởng trường Bộ binh lại cho Thiếu tướng Bùi Hữu Nhơn, để đi nhận chức Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Tháng 7 năm 1971, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

1975

Trưa ngày 30 tháng 4, ông cùng vợ và các con nhỏ di tản bằng đường biển đến Vịnh Subic thuộc Philippines. Đến tháng 7 năm 1975, ông xin đi định cư tại Paris, Pháp.

Năm 1979, ba người con lớn của ông (gồm 2 trai, 1 gái) từ Việt Nam cùng sang Pháp đoàn tụ.

Huy chương

-Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (ân thưởng)
-Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu của VNCH
-Legion of Merit của Hoa Kỳ
-Văn huy Bội tinh (Cloud Medal) của Trung Hoa Quốc gia
-Security Medal của Đại Hàn Dân Quốc.

Chú thích

  1.  Tổng cục Chiến tranh Chính trị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu.
  2.  Khóa 1 Võ bị Huế còn được gọi là khóa 1 Võ bị Quốc gia Việt Nam
  3.  Tốt nghiệp khóa 1 Phan Bội Châu Võ bị Huế, sau này lên tướng còn có các Trung tướng Nguyễn Hữu Có, Tôn Thất Đính, Đặng Văn QuangNguyễn Văn Thiệu, các Thiếu tướng Nguyễn Văn ChuânTôn Thất Xứng, các Chuẩn tướng Phan Xuân NhuậnLê Trung Tường.
  4.  Tiền thân của trường Đại học Quân sự và trường Chỉ huy Tham mưu sau này.
  5.  Còn gọi là trường Sĩ quan Đập Đá, đặt trên cơ sở cũ của trường Võ bị Huế đã di chuyển về Đà Lạt. Trường Võ bị Địa phương Trung Việt tiếp tục Huấn luyện và đào tạo được 3 khóa sĩ quan hiện dịch nữa. Trong số sĩ quan tốt nghiệp của 3 khóa này về sau có 3 vị được lên tướng là Thiếu tướng Võ Văn Cảnh, Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp và Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ.
  6.  Trung tá Nguyễn Phước Đàng về sau giải ngũ cùng cấp.
  7.  Trung tá Quách Xến tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, giải ngũ ở cấp Đại tá.
  8.  Thiếu tá Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1927 tại Sài Gòn, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sau cùng là Đại tá Giám đốc Nha An ninh Hành chính trong Bộ Quốc phòng.
  9.  Trong thời gian Chỉ huy trưởng trường Bộ binh, ông đã tổ chức lễ mãn khóa cho các khóa: Khóa 20 tháng 12 năm 1965, Khóa 20 phụ tháng 4 năm 1966 và Khóa 21 tháng 8 năm 1966.
  10.  Đại tá Nguyễn Huy Hùng sinh năm 1929 tại Lạng Sơn, tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Huế
  11.  Đại tá Nguyễn Văn Thái tốt nghiệp khóa 2 Võ bị Huế
  12.  Đại tá Hoàng Đạo Thế Kiệt sinh năm 1931 tại Hà Đông, tốt khóa 1 Võ khoa Nam Định
  13.  Đại tá Nguyễn Lễ Trí sinh năm 1920 tại Cần Thơ, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt
  14.  Chiến tranh Chính trị
  15.  Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh sinh năm 1922 tại Hà Nam, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Liên quân Đà Lạt

Tham khảo

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011), Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.








Tiểu Sử Trung Tướng Trần Văn Trung Khoá 1. 
 Kính thưa quí Niên Trưởng & các Bạn: 
Hôm nay ngày SINH NHẬT của Niên Trưởng TRẦN VĂN TRUNG Khoá 1 trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam ( TVBQGVN), 96 tuổi. Ngày (14/02/1926 - 14/02/2021). 
- Kính chuyển đến anh em BẢN TIỂU SỬ của NIÊN TRƯỞNG TRẦN VĂN TRUNG. (Niên Trưởng TRUNG đã chuyển cho tôi ). Kính chúc Niên Trưởng được: SỨC KHỎE & TRƯỜNG THỌ. (Nguyễn Vĩnh Giám Khoá 19)…, Thăm và gửi đến anh Giám " Chút Kỷ Niệm ". Thân chúc anh chị và gia đình luôn được An khang, Hạnh phúc cùng vạn sự May mắn. Trung. 
Vinh Giam Nguyen Khoá 19 VBĐL ______________________ 
TiỂu sử Cựu Trung tướng TRẦN VĂN TRUNG, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. 
 Ông Sinh ngày 14-2-1926 làng Đốc Sơ, Quận Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên Việt Nam. 
- 1936-1946: Huấn luyện văn hóa và tôn giáo tại Trung tâm Dòng Chúa Cứu Thế ở Huế (Giáo đoàn Đấng Cứu Thế, dưới Ngôi nhà Mẹ ở Montreal, Tỉnh Quebec, Canada). 
 - 1946: Trở lại cuộc sống bình thường. 
- 1949:Tốt nghiệp Trường Võ Bị Huế với cấp bậc Thiếu Uý 
- Khoá Phan Bội Châu.(Khoá 1 Bảo Đại). Sau Trường được chính thức đổi tên thành Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN 
- VNMA). - 1949-1950: Tu nghiệp Chương Trình Bộ binh tại trường Võ bị Coëtquidan (Saint Cyr) ở Pháp. 
- 1951-1956; 
*Tốt nghiệp Thủ khoá Chỉ Huy và Chiến thuật tại trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà nội, Đơn vị Chiến binh Quân khu 2 (Trung tâm Việt Nam). 
* Chỉ Huy Trưởng trường Võ Bị địa phương Huế. 
* Chuyên ngành và Bộ Tư lệnh Chiến thuật tại Hà Nội. 
* Đại uý Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 27 Việt Nam. 
* Là một thành phần của GM 21, tham gia hoạt động lâu dài ở các tỉnh miền Nam và vùng cao nguyên của Việt Nam, trước trận Điện Biên Phủ, GM 21 là một nhóm Franco Mixed Mobile Việt Nam (Cơ Động Hổn hợp Việt Pháp), thành lập trong 3 tiểu đoàn bộ binh bao gồm, 2 Tiểu đoàn người Việt Nam và hỗ trợ bằng các phương tiện như Pháo binh và Không yểm... để có sự chủ động lớn hơn trong các mặt trận. 
Đó là một đơn vị yểm trợ tuyệt vời cho toàn bộ Quân khu 2. 
- 1957: Lên Trung tá Chỉ định Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý của Bộ Quốc phòng, thay thế Trung Tá Nguyễn Văn Phẫm, kiêm Trưởng phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu. 
Tháng 10 được Chỉ định Tuỳ viên Quân sự , tại tòa Đại sứ Việt Nam tại Pháp. -1958 Được vinh thăng Đại tá tạm thời. 
- 1960: Kết thúc nhiệm vụ ở nước ngoài - Thanh tra Thanh niên các tỉnh miền Bắc Trung nguyên Trung phần. 
- 1962: Thăng chức Tham mưu Phó Nhân Viên Bộ Tổng Tham mưu. - 1964: Chỉ Huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Ở Đà Lạt thay thế Thiếu Tướng Trần Tử Oai. 
- 1965 Trở lại Làm Trưởng phòng Tổng quản trị Bộ Tổng Tham Mưu. -Chỉ huy trưởng trường Bộ Bình Thủ Đức, thay thế Chuẩn Tướng Cao Hão Hớn. 
- 01/11/1966 Vinh thăng Chuẩn Tướng Nhiệm chức. -1966: Nhậm chức phụ tá Tổng Tham mưu Trưởng Bộ Tổng tham mưu kiêm tổng cục trưởng Tổng Cục CTCT (Chiến tranh Chính trị). - 1968:Vinh thăng Thiếu tướng nhiệm chức. -1969:Thăng Thiếu tướng Thực thụ. 
- 1971: Thăng cấp lên cấp bậc Trung Tướng nhiệm chức. Những năm sau được vinh thăng Trung tướng thực thụ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau mùa Xuân Sài Gòn vào một buổi sáng muộn, Trung Tướng Trần Văn Trung từ chức để lựa chọn một cuộc khởi hành vội vã từ giả Việt Nam, thông qua phương tiện eo hẹp và trong điều kiện khá bi quan... 
 Chiều 30-4-1975, chiếc tàu di tản đến gần đảo Côn Sơn Và bị phá vỡ, chìm trên biển, tất cả hành khách của chiếc thuyền nhỏ bị nạn đã được tiếp cứu bởi một trong những chiến hạm của Hải quân Việt Nam Cộng hoà. Cuối cùng đoàn người di tản được tập trung và di chuyển sang Philippines. 
Sau những ngày được hướng dẩn bởi Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà, họ đã đến Vịnh Subic. 
Trong khi ở sân bay Clark-Fields Manila, máy bay Không quân Mỹ đang chờ đợi với nhiệm vụ đưa toàn bộ quân nhân và dân sự di tản đến đảo Guam nhanh chóng. 
Sau đó thành lập các thủ tục nhập cư vào lảnh thổ Hoa kỳ… 
Tại một trong những trung tâm tiếp cư ở Guam, Trung Tướng Trung đã gặp lại vợ với Pascal Tri Thi, đứa con út 2 tuổi của họ. Cuộc hội ngộ diễn ra với rất nhiều cảm xúc. Đúng vậy, Bà Trần Văn Trung và con của họ đã được Đại sứ quán Mỹ di tản vào đêm 29 tháng 4. Lúc bấy giờ, họ đang chờ đợi để đi định cư tại Hoa Kỳ. Nhưng không giống như mọi dự tính di tản, đó là đi Mỹ như hầu hết các trường hợp, Tướng Trung quyết định sang Pháp, vì lý do đó là cách duy nhất để ông có thể liên lạc với ba đứa con lớn của ông bị kẹt ở Sài Gòn. 
Ba đứa trẻ đã không được đoàn tụ với cha mẹ chúng cho đến 1979, sau bốn năm dài xa cách và đau khổ!. Đầu tháng 7 năm 1975, Trung tướng và gia đình đến Pháp, với mục đích định cư vĩnh viễn ở đó , và trở thành người tị nạn chính trị. 
Ông bà định cư tại địa chỉ 42 rue Boucicaut, ở Fontenay-Aux-Roses, một thị xã ở ngoại ô phía tây nam Paris và Trung Tướng đã trải qua cuộc lưu vong của ông từ năm 1975 đến nay. 
Trung Tướng Trần Văn Trung bây giờ tám mươi tám tuổi (Lời toà soạn: Khi viết bài này) 
 
Huy Chương đã Nhận lảnh: 
-Bảo Quốc Huân Chương đệ Tam đẳng. 
-Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu và các huy chương Quân, Dân sự khác của Việt nam Cộng Hoà. 
-Huy chương Khen thưởng (Legion Merit) của Hoa Kỳ. 
-Huy chương Vân Huy Bội tinh (Cloud Medal) Của Trung hoa Dân Quốc (Đài Loan). 
-Huy chương An ninh (Security Medal) Đại Hàn Dân Quốc. 
Lời Kết: 
Đáng lưu ý rằng trong suốt thời gian tương đối lâu dài của mình tại Tổng Cục Chiến tranh Chính trị, Tướng Trần Văn Trung đã nỗ lực rất lớn trong các vấn đề quan trọng sau: 
1) Ông đã đặt tầm quan trọng thiết yếu đối với giáo dục chính trị trong Lực lượng Quân sự, ở tất cả các đơn vị và ở mọi cấp độ. Giáo dục chính trị nhằm mục đích khai sáng các quân nhân về những giá trị lý tưởng và đạo đức để thấu hiểu, để khiến họ hiểu những lý do tại sao họ phải chiến đấu và chấp nhận hy sinh. Thực hiện lòng yêu nước và ý thức công việc của họ. Trong một cái hình thức bên ngoài, để củng cố tinh thần của quân đội cho cuộc đấu tranh. 
2) Ông đã chiến đấu quyết liệt chống tham nhũng, nhằm gia tăng tiềm năng vật chất và tinh thần đạo đức cho quân đội. 
3) Trung tướng đã thực hiện nhiệm vụ chăm sóc đặc biệt cho cuộc sống của các gia đình quân đội (Chương trình Gia binh). -Với mạng lưới kinh tế quan trọng (Quân tiếp vụ), đảm bảo giao hàng tận tay cho các gia đình Binh sĩ, là các loại hàng hóa thường xuyên, cơ bản , như Gạo, Đường, Dầu, Sữa đặc, Thịt hộp, hay đông lạnh, hoặc Cá, Mì Ramen, Thuốc lá....Một vấn đề rất quan trọng để vượt qua sự bất an của gia đình Binh sĩ, sự bất an do đồng lương quá hạn chế của người lính!. -Nhấn mạnh về Giáo dục, Ông đã cho quản lý một hệ thống thành lập văn hóa quan trọng: Mẫu giáo , Trường tiểu học, Cao đẳng... được thành lập ở tất cả các tỉnh thành, với đơn vị, để đảm bảo giáo dục trẻ em. -Ông đã đoàn ngũ hoá Chương trình Hướng đạo sinh vào Quân đội. Trong 2 năm, Ông ấy đã tập trung gần 100.000 bé trai và bé gái ở tuổi Cub và Hướng đạo sinh để rèn luyện và chuẩn bị cho độ tuổi trưởng thành. 
 -Ông đã giới thiệu một chương trình Cách mạng trong Quân đội dưới tên gọi ′′NEW HORIZON" hay “Chân Trời Mới” nhằm hướng tới: 
 * Giảm thiểu những bất công trong Quân đội, * Đảm bảo tất cả các quyền hợp pháp cho các chiến sĩ, quân nhân. 
* Tăng cường hoạt động văn hóa, với nhiều hình thức khác nhau, để cuộc sống trở nên hấp dẫn hơn trong các đơn vị quân đội... 
4) Cuối cùng, Chánh sách Chiêu hồi nên được giữ lại. Thật vậy, Tướng Trung đã rất tích cực trong các hoạt động truyền thông, với tất cả các phương tiện kỹ thuật có sẵn: 
* Phát sóng liên tục, đêm và ngày, trên các đài phát thanh. 
* Trong khu vực đối phương, chương trình phát thanh hàng đêm trên máy bay..., 
* Rải phân phát hàng trăm triệu tờ truyền đơn (tờ rơi) và giấy tờ các loại... 
* Phân phát các món quà khác nhau, bao gồm cả những loại máy phát sóng radio nhỏ, với tần suất cao, cài đặt sẵn trên máy truyền tin địa phương... Tất cả những hành động này đều nhằm mục đích gửi cho địch quân cộng sản, những thông tin có khả năng tuyên truyền và làm lung lạc tinh thần của địch quân... 
Từ 1962 đến 1975, miền Nam nhận được tổng cộng 178.000 vụ Chiêu hồi từ các cấp bậc Cộng sản miền Bắc, trong số đó là các cán bộ cao cấp, ví dụ như Đại tá Tám Hà và Đại tá Lê-Xuân -Chuyên và Huỳnh-Cư, người mà Chính phủ đã giao phó cho các vị trí trách nhiệm trong việc Quản trị Chương trình Chiêu hồi này. Có thể nói rằng, không có bất kỳ một sai lầm rủi ro nào xảy ra. 
Chương trình Chiêu hồi đã đạt được những kết quả rất đáng kể, và nó đã đạt được một sự tiết kiệm đáng kể cho việc đổ xương máu , và giảm thiểu được sự mất mát tính mạng con người, trong Lực lượng quân sự của Việt Nam Cộng hòa. 
Ba Lê năm 2014 (Tài liệu của NT Trần Văn Trung nhân sinh Nhật thứ 96 tuổi.) Thiều Minh 
- Nguyễn Văn Tạo Khoá 26 Võ Bị Đà Lạt, Phỏng dịch. 
-Tham khảo tài liệu Lược Sữ Quân Lực VNCH. -Tham khảo tài liệu Cá nhân Cựu Trung Tướng TrầnVăn Trung (Pháp ngữ) 
-Diễn đàn Võ Bị Việt Nam 
-Tài liệu của NT Vĩnh Giám Nguyễn K19 Di Ảnh Cựu Trung Tướng Trần Văn Trung Khoá 1 Trường VBQGVN