Thursday, June 22, 2017

Chuẩn Tướng Võ Dinh Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân (1929-2017)

SQ: 49/600.095
Sanh ngày 28 tháng 6 năm 1929 tại Thừa Thiên
1950: SVSQ Khóa 3 Trần Hưng Đạo, Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
1951: Tuyễn chọn đơn vị Không Quân khi tốt nghiệp.
1952: Khóa 1 Hoa tiêu Quan Sát TTHL/KQ Nha Trang.
1953: 1-7 Đại Úy Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 2 Quan sát và trợ chiến tại Nha Trang.
1955: Theo học khóa Tham Mưu tại trường tham mưu Paris, Pháp
- Khóa bổ túc Hoa tiêu căn cứ KQ Marrakech, Maroc.
- 7-7 Thiếu tá Chỉ Huy Trưởng căn cứ Không Quân Chiến thuật Số 1 Nha Trang.
1956: Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng căn cứ trợ lực Không Quân số 2 Biên Hòa.
1957: Tốt nghiệp khóa Thực Tập Chỉ Huy tại Clarkfield căn cứ Không Quân Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân.
1-11 Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng căn cứ trợ lực Không Quân số 4 Đà Nẵng.
1958: Tốt nghiệp khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp Fort Leavenworth, Kansas Hoa Kỳ.
1959: Trung Tá Phụ tá Thanh Tra Bộ Tư Lệnh Không Quân.
- Tốt Nghiệp khóa Chiến Tranh Chính Trị cao cấp Sàigon.
1960: Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Bộ Tư Lệnh KQ.
- Tốt nghiệp khóa Cao Đẳng Quốc Phòng Monterey, California.
1961: Tham Mưu Phó Nhân viên tại Bộ Tư Lệnh Không Quân.
1967: Đại Tá Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân.
1972: 1-11 Vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức.
1974: 1-3 Vinh thăng Chuẩn Tướng thực thụ.
1975: Định cư tại Corona California


VÕ DINH
Tiểu sử
Sinh 28 tháng 6 năm 1929 (88 tuổi]]
Thừa Thiên, Việt Nam
Mất 20 tháng 6 năm 2017
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1950-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Fatherland - Space.png Không quân
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Võ Dinh (1929 - 2017), nguyên là một tướng lĩnh Không Quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam được Quân đội Pháp hỗ trợ mở ra ở nam Cao nguyên Trung phần Việt Nam trên cơ sở cũ của trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội thuộc địa Pháp. Sau khi tốt nghiệp, ông trúng tuyển vào Quân chủng Không quân và đã phục vụ ở đơn vị này cho đến ngày cuối tháng 4 năm 1975.

Mục lục


Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 28 tháng 6 năm 1929 tại Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam, trong một gia đình thuộc một gia tộc khoa cử đã có mấy đời làm quan dưới triều Nhà Nguyễn. Ông học phổ thông tại Huế. Năm 1949, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại trường Quốc học Huế với văn băng Tú tài toàn phần (Part II).

Quân đội Liên hiệp Pháp

Cuối tháng 9 năm 1950, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 49/600.095. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1950. Ngày 25 tháng 6 năm 1951 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Sau khi ra trường, ông được tuyển chọn vào Quân chủng Không quân, theo học khóa 1 Hoa tiêu Quan sát tại Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang, khai giảng ngày 30 tháng 3 năm 1952.[1]

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Đầu tháng 12 năm 1952, mãn khóa học Không quân, ra trường ông chuyển sang Phục vụ Quân đội Quốc gia, về phục vụ tại Ban Không quân trong Bộ Tổng tham mưu. Cuối tháng, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Đầu tháng 7 năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm, Sau đó ông chuyển ra Duyên hải miền Trung, được cử làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn 2 Quan sát và Trợ chiến tại Nha Trang. Đầu năm 1954, ông được lệnh bàn giao Phi đoàn 2 lại cho Trung úy Nguyễn Văn Lượng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Đầu năm 1955, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Tham mưu tại Trường Tham mưu Paris, Pháp. Sau đó theo học khóa Bổ túc Hoa tiêu tại Căn cứ Huấn luyện Không quân Marrakech, Maroc. Tháng 7 cùng năm, mãn khóa về nước chuyển phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá và giữ chức vụ Chỉ huy trưởng căn cứ Không quân Chiến thuật số 1 ở Nha Trang. Đầu năm 1956, ông chuyến về làm Chỉ huy trưởng căn cứ Trợ lực Không quân số 2 ở Biên Hòa do Không quân Pháp chuyển giao. Giữa năm 1957, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Thực tập Chỉ huy tại Clarkfield căn cứ Không quân Hoa Kỳ ở Phi Lật Tân. Tháng 11 cùng năm, ông được cử làm Chỉ huy trưởng căn cứ Trợ lực Không quân số 4 ở Đà Nẵng do Không quân Pháp chuyển giao.
Giữa năm 1958, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Đầu năm 1959, ông được thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Phụ tá Thanh tra tại Bộ Tư lệnh Không quân. Cùng năm ông được cử đi học và tốt nghiệp khóa Chiến tranh Chính trị cao cấp do Nha Tâm lý chiến tổ chức tại Sài Gòn. Đầu năm 1960, ông được chỉ định làm Tham mưu phó Chiến tranh Chính trị tại Bộ Tư lệnh Không quân. Cuối năm, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Cao đẳng Quốc phòng tại Monterey, Tiểu bang California, Hoa Kỳ. Tháng 2 năm 1961 về nước, ông giữ chức vụ Tham mưu phó Nhân viên tại Bộ Tư lệnh Không quân.
Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm, Sau đó giữ chức Tham mưu trưởng tại Bộ Tư lệnh Không quân thay thế Đại tá Võ Xuân Lành lên làm Tư lệnh phó Quân chủng Không quân.
Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm và ở chức vụ Tham mưu trưởng Không quân cho tới cuối tháng 4 năm 1975.

1975

Ngày 30 tháng 4, ông di tản ra khỏi Việt Nam. Sau đó sang định cư tại Corona, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Gia tộc và Gia đình

  • Ông nội: Cụ cố Võ Liêm (nguyên Thượng thư Bộ Lễ dưới 2 triều Vua Khải Định và Bảo Đại)
  • Bá phụ: Cụ Võ Chuẩn (nguyên giữ chức Quản đạo Kontum và Tổng đốc Quảng Nam dưới triều Vua Bảo Đại)
  • Thân phụ: Cụ Võ Trị (nguyên là một nhà Nho học uyên thâm)
  • Bào đệ: Ông Võ Quế (nguyên Đại tá Không đoàn trưởng Không đoàn Yểm cứ thuộc Sư đoàn 6 Không quân Việt Nam Cộng hòa)
  • Tướng Dinh là em thúc bá với ông Võ Sum (nguyên Đại tá Hải quân Việt Nam Cộng hòa) và nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh (Võ Thị Hoài Trinh). Hai vị này là con của cụ Võ Chuẩn.

On Saturday, June 24, 2017 9:24 AM, NHAN CAO wrote:
KÍNH ĐIẾU CHUẨN TƯỚNG VÕ DINH
KHÔNG LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

Nếu quả thật niên trưởng đã bay cao
Ngàn bóng hạc soải cánh không theo kịp
Như ngày xưa Tướng ngồi xem mây tím
Đàn chim về, khói lửa bỏ sau lưng

Xé không gian, bom nổ vỡ đêm sương
Trăm oanh tạc thay phiên cầy đất địch
Nón phi công đã ghi bao chiến tích
Vẫn anh hùng làm chủ cả không gian

Thế mà nay niên trưởng bỗng đăng vân
Khi phi vụ non sông chưa dứt điểm
Huynh đệ chi binh khắp phương trời quý mến
Kính dâng người âm hưởng sa trường xưa

Nén hương buồn thắp sáng chuyến bay trưa
Mỗi chiến hữu một đường mây cầu nguyện
Bái tiên sinh phiêu diêu miền diễm tuyệt
Vũ trụ mời Thiếu Tướng tới vô cùng ...

CAO MỴ NHÂN

5 comments:

  1. PHÂN ƯU
    Được tin
    Chuẩn Tướng Không Quân VÕ DINH
    Nguyên Tham Mưu Trưởng Không Quân VNCH
    Cựu SVSQ Khoá 3 Trường VBQGVN
    Đã được Chúa gọi về lúc 9 giờ 37 phút ngày 17 tháng 6 năm 2017
    Tại San Jose California,USA
    Hưởng thọ 89 tuổi
    Chân thành chia buồn cùng Bà Quả Phụ Võ Dinh và tang quyến.
    Nguyện cầu Linh hồn Phê-Rô Võ Dinh
    sớm hưởng Nhan Thánh Chúa

    HỘI ÁI HỮU KHÔNG QUÂN VNCH
    MIỀN TRUNG CALIFORNIA ​
    THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

    ReplyDelete
  2. Nhận được tin buồn:
    Cố Chuẩn Tướng Không quân

    Phêrô VÕ DINH

    Nguyên Tham Mưu Trưởng Không quân VNCH
    Đã từ trần ngày 28 tháng 06 năm 2017
    Tại thành phố San Jose, California
    Hưởng thọ 89 tuổi
    Thành kính phân ưu cùng tang quyến cố Chuẩn Tướng VÕ DINH
    Nguyện xin Thiên Chúa vô cùng cao cả,
    sớm đón nhận linh hồn cố Chuẩn Tướng Phêrô VÕ DINH vào nước Chúa,
    hưởng nhan thánh Người đời đời.

    Phu nhân cố Trung Tướng Tư lệnh Không quân VNCH
    Ban biên tập và Ban điều hành Giai phẩm LÝ TƯỞNG

    ReplyDelete
  3. KQ Nguyễn Hữu Thiện (Úc Châu)
    Cho tới những năm tháng cuối đời, cố Niên trưởng (Chuẩn tướng) Võ Dinh vẫn tiếp tục là “độc giả trung thành” của đặc san Lý Tưởng - Úc Châu; mỗi năm ông không quên gửi 20 Mỹ kim gọi là bưu phí cho KQ Bùi Tá Khánh (PĐ-219), đại diện Lý Tưởng - Úc Châu và Ban thực hiện Quân Sử Không Quân tại Hoa Kỳ.

    [Viết một cách chính xác, tờ Lý Tưởng - Úc Châu được gửi tới NT Võ Dinh dưới hình thức “Kính Biếu”, thay lời cảm ơn NT đã tận tình chiếu cố, giúp đỡ trong việc thực hiện cuốn Quân Sử Không Quân, nhưng có lẽ vì là người trọng nguyên tắc, NT đã gửi trả “tiền tem”]

    Tuy nhiên không phải vì cố NT Võ Dinh “chơi đẹp” tôi mới viết những dòng tưởng nhớ này, mà từ trước năm 1975, bản thân tôi đã có ấn tượng tốt đẹp về vị Tham mưu trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân, mà một số người mô tả là rất “réc-lô”!

    Nguyên sau ngày rời xứ Thượng để về xứ Bưởi, tôi trở thành người thân cận của Đại tá (sau lên Chuẩn tướng) Từ Văn Bê, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân. Tôi còn nhớ rất rõ, mỗi lần có phái đoàn BTL/KQ về thanh tra CCKQ Biên Hòa, nếu chỉ có ông Tư lệnh (Trung tướng Trần Văn Minh) và các ông Tham mưu phó thì tương đối “đỡ lo”, nhưng một khi có ông Tham mưu trưởng (Chuẩn tướng Võ Dinh) tháp tùng thì đừng có “dỡn mặt”. Mỗi lần như thế, ông Từ Văn Bê lại căn dặn các ông chỉ huy trưởng dưới quyền: Mấy anh nhớ là kỳ này có ông Tham mưu trưởng về đó nghen!

    Cho nên trong đầu tôi cứ đinh ninh Chuẩn tướng Võ Dinh là người rất “khó”, và thương tội thằng bạn cùng khóa cùng ngành, ngày ấy bốc phải cái thăm về “Văn phòng Tham mưu trưởng KQ”!

    Vì thế vào khoảng cuối năm 1973, khi được ông Từ Văn Bê trao nhiệm vụ tới tư gia NT Võ Dinh ở Tân Sơn Nhất trao tận tay NT một số hồ sơ, tôi hơi “rét”. Nào ngờ đích thân NT đã rót nước mời tôi, sau khi mở phong thư liếc qua xấp hồ sơ đã hỏi tôi đủ thứ chuyện ở Biên Hòa; nhất là sau khi được biết tôi là bạn cùng khóa với Trung úy P, Sĩ quan CTCT tại Văn phòng Tham mưu trưởng, ông càng vui vẻ, thân mật, và sau đó tiễn tôi ra tận cửa.

    Đó lần duy nhất trong đời tôi được nói chuyện trực tiếp với NT Võ Dinh (sau đó ít lâu, tôi có tháp tùng ông Từ Văn Bê về Tân Sơn Nhất phúng điếu Nhạc phụ của NT Võ Dinh, nhưng chỉ đóng vai “tùy tùng”).

    Phải đợi tới sau khi ra hải ngoại, tới những năm đầu của Thế kỷ 21, tôi mới có cơ hội liên lạc lại với NT Võ Dinh.

    Nguyên vào năm 2002, sau khi Liên Hội Ái Hữu Không Quân QLVNCH – Úc Châu quyết định thực hiện cuốn Quân Sử Không Quân VNCH, bản thân tôi được trao trách nhiệm biên soạn đã lần lượt gửi ba “Thư Tham Khảo” tới các Niên trưởng Không Quân (phổ biến trên Lý Tưởng - Úc Châu và Lý Tưởng của Tổng Hội Không Lực một cách chung chung), tôi đã nhận được đủ ba lá thư hồi đáp của NT Võ Dinh.

    Có thể nói trong khi các bài viết Ngành Quan Sát của đàn anh Võ Ý, Ngành Trực Thăng của đàn anh Đỗ Văn Hiếu, Phi Đoàn 2 Khu Trục của đàn anh Trần Bá Hợi, Ngành Kỹ Thuật & Tiếp Vận của các NT Nguyễn Đức Hòa, Trần Phước Hội..., ký ức của các NT Nguyễn Quang Tri, Vũ Thượng Văn, Phùng Văn Chiêu, Trần Phước (Mệ)... đã cung cấp những dữ kiện tổng quát, thì ba lá thư hồi đáp của NT Võ Dinh, với ký ức tuyệt vời, đã giúp chúng tôi những chi tiết quý báu về “thuở ban đầu” của KQVN; đặc biệt về các diễn tiến, các danh xưng, các cấp chỉ huy vào từng mốc điểm thời gian. Lấy thí dụ một đoạn trong thư hồi đáp số 3 mà chúng tôi trích đăng nguyên văn sau đây:

    (5) Lúc bàn giao thì Căn Cứ KQ Nha Trang được BTLKQ gọi là “Căn Cứ 1 Chiến Thuật KQ” và Centre d’Instruction Aérienne được gọi là “Trung Tâm Huấn Luyện KQ”. Đến 1957, lúc tôi được lệnh vào Biên Hòa tiếp nhận Căn Cứ này thì BTLKQ quyết định đổi danh xưng “Căn Cứ Chiến Thuật” thành “Căn Cứ Trợ Lực”. Lúc tôi bàn giao cho Thiếu tá Oánh, lúc đó là Chỉ Huy Trưởng TTHLKQ, thì Căn Cứ Chiến Thuật và TTHLKQ được sát nhập thành một đơn vị mới với danh hiệu là “Căn Cứ Huấn Luyện KQ”.

    ReplyDelete

  4. Một điều thú vị nữa, ít ra cũng là với cá nhân tôi, cả ba lá thư hồi đáp đều được NT Võ Dinh đánh bằng máy đánh chữ (typewriter) không có dấu, đánh xong mới bỏ dấu bằng tay, và ký tên bằng bút nguyên tử. Tôi rất thắc mắc nhưng không dám hỏi: NT không thể cầm bút vì tay đã run, và NT không sử dụng computer vì tinh thần... hoài cổ? Ba lá thư “khác thường” ấy tôi giữ mãi, như chút kỷ niệm với “người xưa”, chút hoài niệm những “ngày xưa”.

    * * *

    Sau khi cuốn Quân Sử Không Quân VNCH được phát hành vào Ngày Không Lực 1 tháng 7 năm 2005 (kỷ niệm 50 năm ngày thành lập KQVN), gửi biếu NT Võ Dinh một cuốn xong là tôi... lơ luôn!

    Một cách chính xác, tôi không bao giờ quên NT Võ Dinh nhưng chỉ vì lười viết thư, lười điện thoại. Phải đợi tới khi bào đệ của NT là Đại tá Võ Quế (nguyên Không đoàn trưởng Không Đoàn Yểm Cứ Pleiku) qua đời tại Hoa Kỳ, tôi mới bỏ công viết thư chia buồn; một lần rồi thôi.

    Từ đó, tất cả những gì nhắc nhớ tới NT Võ Dinh, với tôi, chỉ là tên NT và số tiền 20 Mỹ kim ủng hộ trong danh sách độc giả Lý Tưởng - Úc Châu ở Hoa Kỳ do KQ Bùi Tá Khánh ghi lại sau mỗi lần gửi báo.

    Thật tình mà nói, mỗi lần thấy tên NT Võ Dinh trong danh sách ấy, trong lòng tôi rất mừng, bởi biết rằng một khi NT còn đọc báo được là còn minh mẫn, còn mạnh khỏe.

    Nhưng rồi đời người cũng qua. Người chết có lẽ không chấp nhất, nhưng kẻ còn sống vẫn cảm thấy ân hận!

    Nguyện cầu Linh Hồn Niên Trưởng sớm hưởng phúc trường sinh trên Nước Chúa.

    KQ Nguyễn Hữu Thiện (Úc Châu)

    * * *

    Các chức vụ NT VÕ DINH đã nắm giữ:

    - Chỉ huy trưởng Phi Đoàn 2 Quan Sát & Trợ Chiến (tiền thân của Phi Đoàn 112)
    - Chỉ huy trưởng Căn Cứ 1 Chiến Thuật KQ (Nha Trang)
    - Chỉ huy trưởng Căn Cứ 2 Trợ Lực KQ (Biên Hòa)
    - Chỉ huy trưởng Căn Cứ 4 Trợ Lực KQ (Đà Nẵng)
    - Phụ Tá Thanh Tra BTL/KQ
    - Tham mưu phó Nhân Viên BTL/KQ
    - Tham mưu phó Chiến Tranh Chính Trị BTL/KQ
    - Tham mưu trưởng BTL/KQ

    ReplyDelete