Saturday, February 3, 2018

Tr.Tướng Trần Ngọc Tám

Trần Ngọc Tám (1926-2011), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội Pháp mở ra ở Đông Dương, tiếp nhận và huấn luyện thí sinh người bản xứ trở thành sĩ quan để phục vụ Quân đội thuộc địa. Thời gian tại ngũ, ngoài nhiệm vụ chỉ huy đơn vị Bộ binh, ông còn đảm nhiệm những chức vụ thuộc lĩnh vực Tham mưu và Quân huấn. Là một trong số ít sĩ quan được trọng dụng và được thăng cấp tướng ở thời kỳ Đệ Nhất Cộng hòa (Thiếu tướng năm 1958). Ông cũng từng là một nhà ngoại giao giữ vai trò đại diện cho Quốc gia ở giai đoạn Đệ Nhị Cộng hòa.
Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 12 tháng 3 năm 1926, trong một gia đình điền chủ giàu có tại Mỹ Tho, miền Tây Nam phần Việt Nam. Thiếu thời, ông học ở Mỹ Tho. Sau lên học ở Sài Gòn. Năm 1944, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).
Quân đội thuộc địa Pháp
Tháng 7 năm 1946, ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp, mang số quân: 46/101.821. Theo học khóa 1 Nguyễn Văn Thinh tại trường Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt, khai giảng ngày 15 tháng 7 năm 1946. Ngày 2 tháng 7 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. [2] Ra trường, ông được điều động đi phục vụ tại Trung đoàn 1 Vệ Binh Nam Việt thuộc Quân đội Liên hiệp Pháp giữ chức vụ Trung đội trưởng. Đầu năm 1949, ông được thăng cấp Trung úy và được cử làm Đại đội trưởng.
Quân đội Quốc gia Việt Nam

Năm 1952, chính thức từ Quân đội Liên hiệp Pháp chuyến sang phục vụ Quân đội Quốc gia, ông được thăng cấp Đại úy lên làm Tiểu đoàn trưởng. Đến cuối năm 1954, sau hiệp định Genève (20 tháng 7) ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ Trưởng phòng Hành quân tại Bộ Tổng tham mưu. [3]
Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Đầu năm 1955, bàn giao chức vụ Trưởng phòng hành quân, ông được cử đi làm Chi khu trưởng quận Đức Hòa, tỉnh Long An. Giữa năm ông được thăng cấp Trung tá, được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Vĩnh Long. Ngày Quốc khánh Đệ Nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1956, ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Đệ tam Quân khu Cao Nguyên thay thế Thiếu tướng Thái Quang Hoàng. Ngày một tháng 10 năm 1957, Đệ Tam Quân khu cải danh thành Quân đoàn II đặt Bộ Tư lệnh tại Ban mê Thuột, ông là Tư lệnh đầu tiên của Quân đoàn II tân lập.. Cuối tháng 2 năm 1958, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Đến tháng 8 cùng năm, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II lại cho Thiếu tướng Tôn Thất Đính. Sau đó được cử đi Hoa Kỳ du học khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas. Liên tục học thêm 2 khóa nữa là khóa Dân sự vụ tại Fort Gordon, Tiểu bang Georgia và khóa Vũ khí Cận đại tại Fort Bliss, Tiểu bang Texas. Giữa năm 1960, mãn khóa về nước, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Đệ Tam Quân khu đặt tại Kontum.

tam_westmoreland
Ngày 13 tháng 4 năm 1961, Đệ Tam Quân khu giải tán để sát nhập vào Quân đoàn II, chuyển về miền Đông Nam phần, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh thay thế Đại tá Nguyễn Văn Chuân được cử đi làm Chỉ huy trưởng trường Võ khoa Thủ Đức. Trung tuần tháng 10 cùng năm, ông nhận lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 lại cho Đại tá Nguyễn Đức Thắng. [4]
Sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ngày 3 tháng 11, ông được cử làm Chỉ huy trưởng trường Võ khoa Thủ Đức thay thế Đại tá Phan Đình Thứ. Ngày 27 tháng 11, ông tổ chức lễ mãn khóa 15 Cách mạng sĩ quan trừ bị. [5]
Sau cuộc Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1 năm 1964 của tướng Nguyễn Khánh. Tháng 3, ông tổ chức lễ mãn khóa 16 Võ Tánh sĩ quan trừ bị. [6] Đầu tháng 4, ông bàn giao chức Chỉ huy trưởng trường Võ khoa Thủ Đức lại cho Đại tá Bùi Hữu Nhơn, để đi làm Tư lệnh Quân đoàn III & Vùng 3 chiến thuật thay thế Thiếu tướng Lâm Văn Phát. [7] Ngay sau khi nhận chức Tư lệnh Quân đoàn III ông được thăng cấp Trung tướng. Đầu tháng 10 cùng năm, bàn giao Quân đoàn III lại cho Thiếu tướng Cao Văn Viên. [8] Giữa tháng 10, ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu giữ chức vụ Tư lệnh Địa phương quân & Nghĩa quân.
Tháng 1 năm 1965, ông rời khỏi chức vụ Tư lệnh Địa phương quân và Nghĩa quân, đồng thời Bộ Tư lệnh đổi thành Bộ Chỉ huy, thay ông làm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Địa phương quân và Nghĩa quân là Đại tá Trương Văn Xương. [9] Sau đó ông được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Điều hành Quốc tế Quân viện. Tháng 7 năm 1972, ông được cử đi làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thủ đô Bangkok, Thái Lan. Tháng 3 năm 1974, ông được triệu hồi về nước và được giải ngũ với lý do phục vụ quân đội trên 20 năm.
1975

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó sang định cư ở Alamada, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.
Ngày 4 tháng 8 năm 2011, ông từ trần tại nơi đinh cư. Hưởng thọ 85 tuổi.

Đại Tá Nguyễn Văn Kinh


Đại Tá Nguyễn Văn Kinh
Lực Lượng Quân Cảnh QLVNCH
Binh chủng Quân cảnh VNCH là lực lượng giám sát quân phong quân kỷ của Quân đội VNCH. Ngoài ra, cùng với lực lượng Cảnh sát Quốc gia, Quân cảnh còn có nhiệm vụ bảo vệ trật tự an ninh ở hậu phương. Cạnh đó, lực lượng Quân cảnh còn phải phụ trách việc giam giữ tù binh Cộng sản tại 5 trại giam toàn quốc. Năm 1955, ngành Quân cảnh của Quân đội Quốc gia Việt Nam ra đời như là một phần của Hiến binh Pháp. Đến năm 1961, Quân cảnh trở thành một cơ cấu riêng biệt trong Quân đội VNCH. Để phát triển theo nhu cầu đòi hỏi, vào năm 1966 ngành Quân cảnh được cải tổ toàn diện. Mỗi sư đoàn bộ binh hay tổng trừ bị đều có một đại đội Quân cảnh cơ hữu trực thuộc. Trên đà phát triển này, một số đơn vị Quân cảnh Tư pháp được thành lập để giúp cho ngành Tư pháp điều tra các tội phạm trong lãnh vực dân sự lẫn quân sự. Để đào tạo nhân sự, ngành Quân cảnh có một trường huấn luyện tại Vũng Tàu nhằm cung cấp kiến thức chuyên môn cơ bản.
Theo hệ thống tổ chức, Bộ Chỉ huy Quân cảnh trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Mỗi quân đoàn/quân khu có một tiểu đoàn Quân cảnh mang cùng số thứ tự trực thuộc, riêng Biệt khu Thủ đô có Tiểu đoàn 6 Quân cảnh. Tiểu đoàn 5 Quân cảnh là đơn vị tổng trừ bị tiếp ứng cho toàn quốc. Các quân binh chủng lớn, như Hải quân, Không quân, Nhảy dù, TQLC và các trường đào tạo, huấn luyện (hạ) sĩ quan cũng có đơn vị Quân cảnh riêng.
Đơn vị trực thuộc Chỉ huy DD 24 QC/TP 1963 Thiếu tá Nguyễn Ngọc Thiệt DD 34 QC/TP 1965 Đại tá Nguyễn Hiếu Trung TD 1 QC 1972 Thiếu tướng Nguyễn Chấn Á TD 2 QC 1973 Đạ.;i tá Nguyễn Hữu Phước TD 3 QC 1975 Đại tá Nguyễn Văn Kinh TD 4 QC TD 5 QC TD 6 QC 

Monday, January 15, 2018

Kỷ Niệm Tướng Phạm Ngọc Sang - Cựu Đại Tá Nguyễn Hồng Tuyền

Bốn mươi năm sau...
Từ năm 1957, ngày chúng tôi chở Tổng thổng Ngô Đình Diệm cùng phái đoàn đi kinh lý Cam Ranh, cộng thêm hai mươi năm sau ngày 30/4/1975 khi miền Nam tan đàn rã nghé, chúng tôi gặp lại ông cựu Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang sau mười bảy năm tù cải tạo nay được đoàn tụ với vợ con ở Westminster miền Nam Cali, mới hiểu rõ lý do vì sao ông tỏ ra tư lự trong buổi thuyết trình, khi nhận lệnh bay chở Tổng thống trên chiếc L19 đi viếng thị xã Cam Ranh.
Trước ngày Tổng thống ra Nha Trang, chúng tôi họp với Thiếu tá Oánh, ông nói: "Không có ai đủ tài năng, trách nhiệm và kinh nghiệm lái cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngoài Thiếu tá Phạm Ngọc Sang." Chúng tôi cũng có gặp lại cựu Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan và cả Nguyễn Phúc Tửng (Le Chinui) và Ôn Văn Tài trong buổi cơm thân mật họp mặt ở nhà Vann Ba (Lèo) ở Martinez, CA.
Trong một chuyến họp mặt Bô Lão Nam Cali chúng tôi, Tuyền và Tài ghé thăm Chuẩn tướng Sang tại cư xá mới hiểu rõ tâm sự của ông ngày đưa Tổng thống và phái đoàn viếng thăm Cam Ranh. Ông có hai câu chuyện muốn hỏi cùng Tài và tôi:
"Thứ nhứt," Ông vừa nói vừa cầm cái chụp dưỡng khí vào mồm để thở trông như thể ông sắp lên phản lực cất cánh bay lên không gian. Có lẽ ngày xưa ông hút thuốc quá nhiều nên ngày nay hai lá phổi không còn sức giãn hồi nên phải dùng Oxy để thở. Sau khi hít một hơi oxy, ông tỉnh táo hơn, tuy nở một nụ cười nhưng mặt vẫn còn hơi cay cú và hỏi: "Ngày thuyết trình ai đã chỉ định tôi bay L19 cho Tổng thống vậy?"
Ôn Văn Tài nhìn qua tôi như thầm bảo mầy trả lời đi Tuyền, vì trong buổi họp để giao trách nhiệm cho các huấn luyện viên bay chở VIP chỉ có Thiếu tá Oánh, Trung úy Thịnh và tôi. Tôi trình bày cùng Chuẩn tuớng như sau: "Câu chuyện phân minh chia ai bay với ai hôm đó Thiếu tá Oánh có hỏi ý kiến Quyền Tư lệnh KQ Trung tá Nguyễn Văn Hổ và Thiếu tá Huỳnh Hữu Hiền, Tham mưu trưởng cùng cả Khối hành quân và có ý kiến chung là không ai có đủ khả năng bay bổng ngoài Ông ra. Cho nên ông được ưu tiên bay cho Tổng thống mà thôi."
Chuẩn tướng Sang bèn cười vui ra mặt và cho chúng tôi biết: "Tài Tuyền biết không, chúng nó muốn chơi Moi (*) đó, vì lúc đó ở phi đoàn chuyên chở VIP Moi chỉ chuyên trị C47 Dakota và chiếc phi cơ riêng Avro Commander của Tổng thống Ngô Đình Diệm mà thôi. Moi đâu có bay L19 nhiều đâu. Lúc đó, Moi tin tưởng các anh em ngoài nầy bay quá nhiều L19 rồi, không ngờ trong buổi thuyết trình Moi dự để xem ai lái cho Tổng Thống để Moi dặn dò vài câu. Không ngờ có tên Moi đầu tiên bay cho Tổng thống. Lúc đó trong lòng Moi muốn từ chối, nhưng vì thể diện, còn mặt mũi nào mà dám nói không bay cho Tổng thống!"
Ông nói tiếp: "Các Toi (*) biết không, Moi chưa đáp sân bay Hàng Không Mẫu Hạm Cam Ranh (**) lần nào, vì có lần chở Thiếu tướng Lê Văn Tỵ ra thăm Cam Ranh bằng Marcel D’Assualt 315, ông thấy sân bay Cam Ranh chỉ có chừng ba trăm thước mà bị ngập dưới nước hết một trăm trước rồi ông bảo trở về ngay. Thành ra hôm đó Moi mới nhờ Tuyền Tài đáp trước để Moi liệu sức mà đáp. Moi theo dõi rất kỹ khi thấy hai anh em đáp xong cũng an toàn, Moi nhào xuống đáp ngay và cũng nhờ Tuyền đã bảo Moi thả sáu mươi độ cánh cản nên đáp êm rơ làm vui lòng Tổng thống mà riêng với Moi thì... thót dế!"
Tôi vội trả lời, "Thấy Chuẩn tướng đáp quá đẹp và an toàn chúng tôi hoan hô hết cỡ. Lúc đó Trung úy Nguyễn Ngọc Loan đáp sau ông. Khi chúng tôi ngồi chung xe Jeep đi ăn cơm trưa, Loan mới có lời khen ngợi; "Dish Cụ", tao chỉ nghe Sang nó bay giỏi, hôm nay tao mới thấy nó bay L9 đâu chỉ có vài giờ mà đáp sân Hàng Không Mẫu Hạm Cam Ranh quá đẹp, nó giỏi thật! Ông bay sau nó mà lòng hồi hộp nên tim đánh thùng thùng hơn mấy thằng Maroc ban nhạc Tây đi diễn binh ngày 14 Juillet và dưới "tu..keo" (nói lái) hết chỉ còn tí tẹo. Nó mà rủi ro có bề gì Tổng thống đi đoong, cái thằng Oánh phải đứng mũi chịu sào mà chúng mình cũng bị vạ lây. Nếu còn thương tình mấy thằng nhóc phi công đầu xanh... cả triệu tội nầy, thì cũng cho cả lũ đi làm lao công chiến trường suốt đời, khiêng vác đạn dược cho xong. Còn nếu bằng không thì alê húp đi vào Chí Hoà ăn cơm tù cho mãn đời phi công các con ơi! "
Sau khi nói rồi Loan cười khè khè... rất có duyên. Sau những lời trình bài chân thành của tôi, thấy gương mặt ông vui tươi trở lại.
"Còn việc thứ hai, Moi muốn lấy lại lời nói lúc Tuyền Tài đem T6 G màu vàng về huấn luyện lại cho các anh em trong phi đoàn ELA có Moi bay nữa chớ! Sợ hôm nào chúng nó muốn Tổng thống bay thử trên T6 G thì Moi cũng phải dang lưng ra chiụ trận có phải không các Toi. Đó là lời nói mà Moi vẫn còn nhớ tới hôm nay. Có lần Moi hỏi: Các Toi có hút thuốc không? Dạ Thưa không. Các Toi không gan lỳ gì hết.. Hãy nhìn Moi hút thuốc đây nè, có chết thằng Tây đen Tây trắng nào đâu? Ông đưa hai ngón tay vàng khè đang cập một điếu thuốc còn phân nửa. Chỉ một cây diêm quẹt, từ sáng bước lên xe Jeep đi làm cho tới chiều về tới nhà mới dập tắt điếu thuốc trên môi. Thành ra hôm nay Moi mới ra thân thể nầy. Xin các Toi đừng hút thuốt như Moi ngày xưa. "
"Thưa Chuẩn tướng chúng tôi xin vâng lời." Chúng tôi xin kiếu từ ra về để ông còn nghỉ ngơi. Ông đưa chúng tôi ra cửa cư xá. Chúng tôi đứng chào Chuẩn tướng theo lễ nghi quân cách. Ông đúng là một ông Tướng KQ anh hùng chiến trường chiến đấu tới viên đạn cuối cùng, bị giặc cộng bắt bỏ tù 17 năm.
Đâu chừng mấy tháng sau Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang rơi vào Coma, Phu nhân và các con của ông đã nuôi chồng và cha trên ba năm trường, thật là một người vợ tuyệt vời và đàn con can đảm và hiếu thảo. Chúng tôi xin hoan hô Bà Phạm Ngọc Sang cùng các con cháu.
Khi hay tin chẳng lành, phái đoàn chúng tôi từ Bắc kéo xuống Nam Cali thăm Ông lần cuối. Khi gặp Bà Sang có nói với tôi, như thể Ông còn nuối điều gì mà chúng tôi không được biết. Khi đó có Đại tá Phạm Hữa Phương (lúc còn sanh tiền) và Trung tá Nguyễn Văn Hai (Đen) có bảo tôi vào thăm: "Anh Năm nên thông báo Chuẩn tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 6 biết là có cả Căn Cứ 60 Chiến thuật KQ Phù Cát về trình diện Chuẩn tướng đây."
Tôi nắm tay Ông làm y lời các anh em cố vấn: "Nếu Chuẩn tướng còn nuối với anh em Phù Cát xin Chuẩn tướng bấm tay tôi cho biết là trả lời hiểu." Tay ông nhè nhẹ bấm tay tôi trả lời và miệng mấp máy mỉm cười. Lúc đó chúng tôi, một đám đứng bên ông không cầm được nước mắt khi nhìn ông mỉm cười. Chừng một giờ sau mặt ông tươi rói và dần dần đi nhẹ nhàng vào cõi hư vô...
Chúng tôi viết những lời nầy với dòng lệ ứa trào quanh mi để tưởng nhớ đến người Anh Cả Sư Đoàn 6 KQ, một Tướng chiến trường anh dũng, xứng đáng cùng Trung Tướng Vĩnh Nghi đánh một trận cuối cùng với hai sư đoàn việt cộng ở Phan Rang.
Gởi lời thăm Chị Sang và các cháu an vui. Chúng tôi nguyện cầu hương linh Chuẩn tướng sớm về cùng Đức Phật A Di Đà.

Nguyễn Hồng Tuyền

Ghi chú: (*) Moi, Toi là tiếng Pháp. Tôi, Anh hoặc Tao, Mày
(**) Hàng Không Mẫu Hạm, chỉ sân bay quá ngắn.

Thursday, June 22, 2017

Chuẩn Tướng Võ Dinh Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân (1929-2017)

SQ: 49/600.095
Sanh ngày 28 tháng 6 năm 1929 tại Thừa Thiên
1950: SVSQ Khóa 3 Trần Hưng Đạo, Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
1951: Tuyễn chọn đơn vị Không Quân khi tốt nghiệp.
1952: Khóa 1 Hoa tiêu Quan Sát TTHL/KQ Nha Trang.
1953: 1-7 Đại Úy Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 2 Quan sát và trợ chiến tại Nha Trang.
1955: Theo học khóa Tham Mưu tại trường tham mưu Paris, Pháp
- Khóa bổ túc Hoa tiêu căn cứ KQ Marrakech, Maroc.
- 7-7 Thiếu tá Chỉ Huy Trưởng căn cứ Không Quân Chiến thuật Số 1 Nha Trang.
1956: Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng căn cứ trợ lực Không Quân số 2 Biên Hòa.
1957: Tốt nghiệp khóa Thực Tập Chỉ Huy tại Clarkfield căn cứ Không Quân Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân.
1-11 Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng căn cứ trợ lực Không Quân số 4 Đà Nẵng.
1958: Tốt nghiệp khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp Fort Leavenworth, Kansas Hoa Kỳ.
1959: Trung Tá Phụ tá Thanh Tra Bộ Tư Lệnh Không Quân.
- Tốt Nghiệp khóa Chiến Tranh Chính Trị cao cấp Sàigon.
1960: Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Bộ Tư Lệnh KQ.
- Tốt nghiệp khóa Cao Đẳng Quốc Phòng Monterey, California.
1961: Tham Mưu Phó Nhân viên tại Bộ Tư Lệnh Không Quân.
1967: Đại Tá Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân.
1972: 1-11 Vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức.
1974: 1-3 Vinh thăng Chuẩn Tướng thực thụ.
1975: Định cư tại Corona California


VÕ DINH
Tiểu sử
Sinh 28 tháng 6 năm 1929 (88 tuổi]]
Thừa Thiên, Việt Nam
Mất 20 tháng 6 năm 2017
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1950-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Fatherland - Space.png Không quân
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Võ Dinh (1929 - 2017), nguyên là một tướng lĩnh Không Quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam được Quân đội Pháp hỗ trợ mở ra ở nam Cao nguyên Trung phần Việt Nam trên cơ sở cũ của trường Võ bị Liên quân Viễn Đông của Quân đội thuộc địa Pháp. Sau khi tốt nghiệp, ông trúng tuyển vào Quân chủng Không quân và đã phục vụ ở đơn vị này cho đến ngày cuối tháng 4 năm 1975.

Mục lục


Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 28 tháng 6 năm 1929 tại Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam, trong một gia đình thuộc một gia tộc khoa cử đã có mấy đời làm quan dưới triều Nhà Nguyễn. Ông học phổ thông tại Huế. Năm 1949, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại trường Quốc học Huế với văn băng Tú tài toàn phần (Part II).

Quân đội Liên hiệp Pháp

Cuối tháng 9 năm 1950, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 49/600.095. Theo học khóa 3 Trần Hưng Đạo tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1950. Ngày 25 tháng 6 năm 1951 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Sau khi ra trường, ông được tuyển chọn vào Quân chủng Không quân, theo học khóa 1 Hoa tiêu Quan sát tại Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang, khai giảng ngày 30 tháng 3 năm 1952.[1]

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Đầu tháng 12 năm 1952, mãn khóa học Không quân, ra trường ông chuyển sang Phục vụ Quân đội Quốc gia, về phục vụ tại Ban Không quân trong Bộ Tổng tham mưu. Cuối tháng, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Đầu tháng 7 năm 1953, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm, Sau đó ông chuyển ra Duyên hải miền Trung, được cử làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn 2 Quan sát và Trợ chiến tại Nha Trang. Đầu năm 1954, ông được lệnh bàn giao Phi đoàn 2 lại cho Trung úy Nguyễn Văn Lượng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Đầu năm 1955, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Tham mưu tại Trường Tham mưu Paris, Pháp. Sau đó theo học khóa Bổ túc Hoa tiêu tại Căn cứ Huấn luyện Không quân Marrakech, Maroc. Tháng 7 cùng năm, mãn khóa về nước chuyển phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Thiếu tá và giữ chức vụ Chỉ huy trưởng căn cứ Không quân Chiến thuật số 1 ở Nha Trang. Đầu năm 1956, ông chuyến về làm Chỉ huy trưởng căn cứ Trợ lực Không quân số 2 ở Biên Hòa do Không quân Pháp chuyển giao. Giữa năm 1957, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Thực tập Chỉ huy tại Clarkfield căn cứ Không quân Hoa Kỳ ở Phi Lật Tân. Tháng 11 cùng năm, ông được cử làm Chỉ huy trưởng căn cứ Trợ lực Không quân số 4 ở Đà Nẵng do Không quân Pháp chuyển giao.
Giữa năm 1958, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Đầu năm 1959, ông được thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Phụ tá Thanh tra tại Bộ Tư lệnh Không quân. Cùng năm ông được cử đi học và tốt nghiệp khóa Chiến tranh Chính trị cao cấp do Nha Tâm lý chiến tổ chức tại Sài Gòn. Đầu năm 1960, ông được chỉ định làm Tham mưu phó Chiến tranh Chính trị tại Bộ Tư lệnh Không quân. Cuối năm, ông được cử đi du học và tốt nghiệp khóa Cao đẳng Quốc phòng tại Monterey, Tiểu bang California, Hoa Kỳ. Tháng 2 năm 1961 về nước, ông giữ chức vụ Tham mưu phó Nhân viên tại Bộ Tư lệnh Không quân.
Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1967, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm, Sau đó giữ chức Tham mưu trưởng tại Bộ Tư lệnh Không quân thay thế Đại tá Võ Xuân Lành lên làm Tư lệnh phó Quân chủng Không quân.
Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm và ở chức vụ Tham mưu trưởng Không quân cho tới cuối tháng 4 năm 1975.

1975

Ngày 30 tháng 4, ông di tản ra khỏi Việt Nam. Sau đó sang định cư tại Corona, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Gia tộc và Gia đình

  • Ông nội: Cụ cố Võ Liêm (nguyên Thượng thư Bộ Lễ dưới 2 triều Vua Khải Định và Bảo Đại)
  • Bá phụ: Cụ Võ Chuẩn (nguyên giữ chức Quản đạo Kontum và Tổng đốc Quảng Nam dưới triều Vua Bảo Đại)
  • Thân phụ: Cụ Võ Trị (nguyên là một nhà Nho học uyên thâm)
  • Bào đệ: Ông Võ Quế (nguyên Đại tá Không đoàn trưởng Không đoàn Yểm cứ thuộc Sư đoàn 6 Không quân Việt Nam Cộng hòa)
  • Tướng Dinh là em thúc bá với ông Võ Sum (nguyên Đại tá Hải quân Việt Nam Cộng hòa) và nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh (Võ Thị Hoài Trinh). Hai vị này là con của cụ Võ Chuẩn.

On Saturday, June 24, 2017 9:24 AM, NHAN CAO wrote:
KÍNH ĐIẾU CHUẨN TƯỚNG VÕ DINH
KHÔNG LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

Nếu quả thật niên trưởng đã bay cao
Ngàn bóng hạc soải cánh không theo kịp
Như ngày xưa Tướng ngồi xem mây tím
Đàn chim về, khói lửa bỏ sau lưng

Xé không gian, bom nổ vỡ đêm sương
Trăm oanh tạc thay phiên cầy đất địch
Nón phi công đã ghi bao chiến tích
Vẫn anh hùng làm chủ cả không gian

Thế mà nay niên trưởng bỗng đăng vân
Khi phi vụ non sông chưa dứt điểm
Huynh đệ chi binh khắp phương trời quý mến
Kính dâng người âm hưởng sa trường xưa

Nén hương buồn thắp sáng chuyến bay trưa
Mỗi chiến hữu một đường mây cầu nguyện
Bái tiên sinh phiêu diêu miền diễm tuyệt
Vũ trụ mời Thiếu Tướng tới vô cùng ...

CAO MỴ NHÂN

Wednesday, May 3, 2017

Trung Tướng Thiết Giáp Hoàng Xuân Lãm, Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Phòng Khóa 3 VBQG/DL

Số Quân: 48/201.368
Sinh tháng 10 năm 1928 Quảng Trị.

1951: Theo học Khóa 3 Trần Hưng Đạo Trường VBQG/DL
Tốt nghiệp cấp bậc Thiếu Úy.
1952: Theo học khóa căn bản Thiết Giáp tại Trung Tâm Huấn Luyện Thiết Giáp Viễn Đông Vũng Tàu.
1953: Ngày 25 tháng 6 thăng cấp Trung Úy, Chi Đội Trưởng Chi Đoàn 4 Thám Thính, theo học khóa Cao Cấp Thiết Gíap Kỵ Binh SAUMUR, PHÁP.
1955: Tháng 10 Thiếu Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 1 Kỵ Binh Thiết Giáp
1957: Bàn giao chức Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 1 cho Đại Úy Dương Hiếu Nghĩa.
Cuối tháng 5 Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Thiết Gíap Binh trại Trần Hưng Đạo.
1959: Theo học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu tại trường Chỉ Huy Tham Mưu Fort Leavenworth. Kansas, Hoa Kỳ.
1960: Mãn khóa trở về nước phục vụ tại Trường Đại Học Quân Sự.
1963: Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh.
1964: Ngày 11-8 Vinh Thăng Chuẩn Tướng.
Ngày 15-10 Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh.
1965: Ngày 1-11, Vinh Thăng Thiếu Tướng.
1966: Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và Vùng 1 Chiến Thuật.
1967: Tháng 7 Vinh Thăng Trung Tướng Nhiệm Chức.
1968: Ngày 19-6, Vinh Thăng Trung Tướng Thực Thụ.
1971: Tư Lệnh cuộc Hành Quân Lam Sơn 719.
1972: Bàn giao Tư Lệnh Quân Khu 1 cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và nhậm chức Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Phòng.
1975: Di tản trên HQ 802 và định cư tại Davis, California Hoa Kỳ.
 
Huy Chương:
- Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.
- 20 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu.
- 4 Huy Chương Hoa Kỳ.
- 2 Huy Chương Tổng Thống Đại Hàn Pak Chung Hee.
- 2 Huy Chương Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch.




Linh cữu hiện quàn taị Oak Hill Memorial Park, 300 Curtner Avenue, San Jose, CA 95125

CHƯƠNG TRÌNH TANG LỄ
                     Thứ Sáu - ngày 19 tháng 5 năm 2017:
                                                  10:00 giờ sáng  – 11:30 giờ sáng       Lễ Nhập Liệm và Thọ Tang 
             (dành riêng gia đình)
                                                                                                     
                                   Thứ Bảy- ngày 20 tháng 5 năm 2017:  
                                                11:00 giờ sáng  – 12:00 giờ trưa         Lễ Phủ Cờ
                                                12:00 giờ trưa   –   6:00 giờ chiều       Thăm Viếng
                                                                            
                         Chủ Nhật - ngày 21 tháng 5 năm 2017:
                                                  9:00 giờ sáng   10:30 giờ sáng       Tụng Niệm
                                                10:30 giờ sáng  – 11:00 giờ sáng       Lễ Thu Cờ
                                                11:00 giờ sáng  – 11:30 giờ sáng       Di Quan và Hỏa Táng
TANG GIA ĐỒNG KÍNH BÁO
Vợ:                            Bà Quả Phụ Hoàng Xuân Lãm (nhủ danh Nguyễn Thị Lê Hồng)
Trường Nữ:               Hoàng Nguyễn Phương-Liên và gia đình
Thứ Nữ:                    Hoàng Nguyễn Phuơng-Lan và gia đình
Thứ Nữ:                    Hoàng Nguyễn Phuơng-Dung và gia đình
Trường Nam:            Hoàng Anh Tuấn
Thứ Nữ:                    Hoàng Nguyễn Phuơng-Nam và gia đình
Cáo Phó Nầy Thay Thiệp Tang
Xin Miễn Phúng Điếu



Hình ảnh Trung tướng Hoàng Xuân Lãm tháp tùng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
thăm Nghĩa quân và Nhân dân Tự vệ tại Quân khu 1 VNCH
Phóng viên Vũ Nhân của SBTN phỏng vấn
cựu Trung tướng Hoàng Xuân Lãm
Sau khi VietPress USA phổ biến "Tin Buồn: CỰU TRUNG TƯỚNG HOÀNG XUÂN LÃM TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN I VÙNG 1 CHIẾN THUẬT VNCH VỪA QUA ĐỜI TẠI CALIFORNIA NGÀY 02/5/2017 THỌ 89 TUỔI" (http://www.vietpressusa.us/2017/05/tin-buon-cuu-trung-tuong-hoang-xuan-lam.html); chúng tôi nhân được Email của Giáo sư Sử học Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu Quốc hội VNCH, là đồng hương với cố Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, đã bổ túc những chi tiết sau đây:
1/- Theo gia phả viết bằng chữ Hán của gia đình họ Hoàng mà hiện Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng có bản copy trong tay thì ông Hoàng Xuân Lãm sinh ngày 13 tháng 10 Âm lịch năm Đinh Mão 1927 nên năm nay theo tuổi Việt Nam thì cựu Trung tướng Hoàng Xuân Lãm đã 91 tuổi; tính theo tuổi Dương lịch là 90 tuổi.
2/- Có một chi tiết tài liệu VietPress USA đưa ra còn thiếu sót nên nay Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng bổ túc: "Trước Hiệp định Genève 1954 (ngày 20/7/1954 ký kết Hiệp định Genève chia đôi Việt Nam thành 2 miền Nam và Bắc, lấy sông Bến Hải làm ranh) thì ông Hoàng Xuân Lãm được đưa ra Bắc làm Chỉ huy trưởng Thiết Giáp ở Sơn Tây; lúc đó ông mang cấp bậc Đại úy. 
Vào tháng 7/1954 ông Hoàng Xuân Lãm di cư vào Nam và được lên Thiếu Tá và làm Chỉ huy trưởng Thiết Giáp tại Vũng Tàu.
Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị đảo chánh lật đổ vào ngày 1/11/1963, ông Hoàng Xuân Lãm mới được đưa về làm Tư lệnh Sư đoàn 23 ở Ban Mê Thuột thay thế Đại tá Lê Quang Trọng bị bệnh ung thư được đưa qua Mỹ chửa bệnh. Lúc đó ông Hoàng Xuân Lãm mới được chính thức lên cấp Đại tá thực thụ và chính thức làm Tư lệnh Sư đoàn 23.
a/. Tự điển Bách Khoa Wikipedia ghi cựu Trung tướng oàng Xuân Lãm sinh tháng 10 năm 1928: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Xu%C3%A2n_L%C3%A3m
Video Nhà báo Đỗ Dzũng phỏng vấn cựu Trung tướng Hoàng Xuân Lãm:
MỜI ĐỌC TIẾP TẠI LINK:

Tướng Hoàng Xuân Lãm, Chiến Dịch Lam Sơn 719 Hạ Lào

Tư lệnh Quân đoàn 1 Hoàng Xuân Lãm và kế hoạch phối hợp với Quân đoàn 24 Hoa Kỳ
Sau khi liên quân Việt-Mỹ khởi động cuộc hành quân ngoại biên trong mùa Hè và mùa Thu năm 1970 tại Cam Bốt để triệt phá các căn cứ địa của CSBV, vào tháng 12/1970, Thượng viện Hoa Kỳ đã biểu quyết không cho sử dụng kinh phí dành cho Quân đội Hoa Kỳ để tham dự các cuộc hành quân quá lãnh thổ VNCH, nên kể từ năm 1971, các đơn vị Hoa Kỳ không thể tham gia các cuộc hành quân ngoại biên cùng với các đơn vị VNCH, mà chỉ được phép yểm trợ về Không quân, tiếp tế và Pháo binh.

Tháng 1/1971, theo sự chỉ định của bộ Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam, Tư lệnh Quân đoàn 24 Hoa Kỳ được giao nhiệm vụ phối hợp với Quân đoàn 1 VNCH để yểm trợ cuộc tấn công bằng Không quân và Bộ binh dọc theo đường số 9 tới căn cứ địa 604 của CSBV ở về phía Tây Nam Tchépone. Cuộc hành quân này được đặt tên là Chiến dịch Lam Sơn 719 (còn được gọi là cuộc hành quân Hạ Lào), khởi động ngày 30-1 và kết thúc vào ngày 6-4-1971.
Theo kế hoạch, tổng chỉ huy lực lượng VNCH tham dự cuộc hành quân Hạ Lào là trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn 1/Vùng 1 chiến thuật. Tướng Lãm quê quán Quảng Trị, ông là một trong những sĩ quan đầu tiên của binh chủng Thiết giáp Quân đội Quốc gia VN từ năm 1951, từng giữ chức chỉ huy trưởng Thiết giáp QL.VNCH vào thời gian 1958-1959 khi ông còn mang cấp bậc trung tá. Năm 1960, ông được điều động về Trường Đại học Quân sự (sau này cải danh thành trường Chỉ huy Tham mưu). Đầu tháng 11/1963, ông được thăng đại tá và sau đó được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, được thăng cấp chuẩn tướng vào tháng 8/1964. Giữa tháng 10/1964, ông ra miền Trung giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh, được thăng thiếu tướng vào tháng 11/1965. Tháng 6/1966, tướng Lãm được cử giữ cử chức tư lệnh Quân đoàn 1/Vùng 1 chiến thuật, thăng trung tướng vào tháng 7/1967 và tiếp tục chỉ huy Quân đoàn 1 đến đầu tháng 5/1972.
Trở lại với cuộc hành quân Hạ Lào, theo kế hoạch, nỗ lực chính của cuộc hành quân là các đơn vị VNCH thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh và 2 sư đoàn tổng trừ bị là Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, Lữ đoàn 1 Kỵ binh, Liên đoàn 1 Biệt động quân.
Về phía lực lượng Hoa Kỳ (HK), kế hoạch yểm trợ chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: Ngày D (30-1/1971), Lữ đoàn 1/Sư đoàn 5 HK được phi cơ yểm trợ hành quân về hướng Tây, giữ đường số 9 từ Đông Hà đến biên giới Việt Lào, bảo vệ căn cứ Khe Sanh; Sư đoàn 834 Không lực HK đảm trách không vận.
Giai đoạn 2: các đơn vị VNCH tham dự cuộc hành quân được Quân đoàn 24 Hoa Kỳ và Không đoàn Tác chiến 7AF Hoa Kỳ yểm trợ để tiến nhanh chóng về hướng Tây chiếm Tchépone trên bộ, cũng như bằng không vận. Giai đoạn 3: Không quân Hoa Kỳ yểm trợ các cánh quân VNCH khai triển các cuộc tấn công, hành quân lục soát. Giai đoạn 4: Yểm trợ cuộc rút quân.
Sau đây là chi tiết về kế hoạch phối hợp giữa Quân đoàn 1 VNCH và Quân đoàn 24 Hoa Kỳ trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Những sự kiện được trình bày trong phần này được tổng hợp dựa theo hồi ký của đại tướng Westmoreland (nhà xuất bản Thế Giới), tài liệu của Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, bài viết về sự yểm trợ của Hoa Kỳ cuộc hành quân Lam Sơn 719 được phổ biến trong tạp chí KBC và tài liệu riêng của VB.
* Tướng Hoàng Xuân Lãm, lực lượng VNCH, lực lượng Hoa Kỳ trong cuộc hành quân Lam Sơn 719
Theo nhận định của bộ Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam, Lam Sơn 719 là một cuộc hành quân hỗn hợp Việt Mỹ, được tổ chức quy mô với một số đặc điểm. Vùng hành quân trên đất Lào, do đó vai trò của QL.VNCH và Hoa Kỳ rất khác biệt. Lực lượng Hoa Kỳ bị giới hạn rất nhiều, không một quân nhân Hoa Kỳ nào được phép đặt chân trên đất Lào và do đó các cố vấn Hoa Kỳ không được đi theo các đơn vị VNCH.
Về hệ thống chỉ huy, toàn bộ lực lượng VNCH tham dự cuộc hành quân được đặt dưới quyền điều động của trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn 1 đồng thời là Tư lệnh cuộc hành quân trên bộ. Về phía Hoa Kỳ, giám sát các hoạt động yểm trợ là đại tướng Creighton W. Abrams, Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại VN, dưới quyền của đại tướng Abrams là trung tướng James W. Sutherland, Tư lệnh Quân đoàn 24 Hoa Kỳ, trách nhiệm điều hợp kế hoạch yểm trợ và đại tướng Lucious D. Clay, Jr, Tư lệnh Không lực 7, chỉ huy về yểm trợ không lực cho cuộc hành quân Lam Sơn 719.
Để gia tăng hiệu năng trong vấn đề kế hoạch phối hợp, bộ Tư lệnh Yểm trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam và bộ Tổng Tham mưu QL.VNCH cho thành lập ban điều hợp gồm một số sĩ quan cao cấp Việt-Mỹ để thực hiện nhiệm vụ liên lạc giữa bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 của trung tướng Hoàng Xuân Lãm và Quân đoàn 24 Hoa Kỳ của trung tướng James W. Sutherland. Ban điều hợp bắt đầu làm việc từ ngày 6 tháng 3 gồm 1 chuẩn tướng cố vấn Pháo binh, một chuẩn tướng cố vấn không yểm Lục quân, một chuẩn tướng cố vấn không-yểm Không quân chiến lược và một chuẩn tướng VNCH cố vấn về Pháo binh cho các đơn vị Pháo binh VN. Khi làm việc, ban điều hợp họp với trung tướng Lãm hàng ngày, và trở nên bộ tham mưu của ông để cố vấn trong mọi kế hoạch, bảo đảm sự phối hợp được hoàn hảo với các đơn vị tham chiến. Phía Hoa Kỳ cho rằng vấn đề này nhằm yểm trợ cho Quân đoàn 1 với tất cả mọi nỗ lực.
* Không lực Hoa Kỳ yểm trợ cuộc hành quân của lực lượng VNCH
Thủ tục điều hành Không quân Chiến lược trong nhiệm vụ yểm trợ cho các đơn vị VNCH tham chiến trong hành quân Lam Sơn 719 dựa theo lệnh hành quân 1-71 cho bộ chỉ huy Không yểm Hoa Kỳ (DASC). Theo lệnh này, bộ chỉ huy Không yểm tại Đà Nẵng chuyển tiếp những nhu cầu không trợ cho giai đoạn 1 đến trung tâm Không yểm QL.VNCH. Trong giai đoạn 2, 3, và 4, một bộ chỉ huy Không yểm mới được thành lập ngày 31 tháng 1 lấy danh hiệu là DASC Victor đặt tại Quảng Trị để điều hành hoạt động không trợ cho các đơn vị VNCH. Bộ chỉ huy mới này bắt đầu hoạt động từ ngày 7 tháng 2/1971.
Máy bay quan sát thuộc phi đoàn yểm trợ trong căn cứ Không quân Nakhon Phanon ở Thái Lan, danh hiệu là Nail, được đem qua Quảng Trị để cung ứng cho nhu cầu không trợ cho các đơn vị bộ chiến trên đất Lào. Khi đến Quảng Trị, phi đoàn quan sát này lấy danh hiệu là Hammer. Sử dụng các phi cơ Hammer, bộ chỉ huy Không yểm điều hành các phi vụ chiến thuật, chiến lược ngoại biên.
Ngoài ra, bộ chỉ huy Không yểm (DASC) sử dụng các phi cơ quan sát danh hiệu Barky để yểm trợ cho Lục quân Hoa Kỳ trong cuộc hành quân trên nội địa Việt Nam. Trung tâm Không yểm DASC vẫn trực thuộc trung tâm Hành quân Không lực 7 Hoa Kỳ.
Một khía cạnh khác trong hệ thống điều hành là bộ chỉ huy Yểm trợ Chiến trường thuộc Không lực 7 Hoa Kỳ, danh hiệu là Hillsboro hoặc Moonbeam kiểm soát không phận bên Lào. Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, nhiệm vụ chính của bộ chỉ huy này được giao cho phòng phối hợp với trách nhiệm là nhận yêu cầu yểm trợ rồi chuyển cho phi cơ quan sát trong vùng hành quân. Bộ chỉ huy Không yểm DASC chỉ huy phi đoàn quan sát Hammer, chia vùng trách nhiệm cho phi đoàn này, thông báo những vị trí mục tiêu. Thực tế, tình hình chiến trường trên bộ thay đổi nhanh chóng nên phi cơ quan sát phải thông qua bộ Chỉ huy Yểm trợ chiến trường. Tùy theo tình hình trận địa bộ chiến, phi cơ quan sát thường quyết định trong trường hợp nào thì phải sử dụng phi cơ chiến lược.
Khoảng giữa tháng 1/1971, sĩ quan cao cấp đại diện Quân đoàn 24 Hoa Kỳ và Quân đoàn 1 VNCH họp bàn về kế hoạch không yểm cho cuộc hành quân Lam Sơn 719. Lúc đó, Quân đoàn 1 dự trù sử dụng hai sư đoàn và 1 lữ đoàn biệt lập. Một lực lượng sẽ bao mặt Bắc, một dọc theo đường số 9, và còn lại sẽ chạm mặt Nam. Các trung tâm hành quân sẽ đặt trên đất Lào, điều này gây trở ngại cho không yểm, việc liên lạc với phi cơ quan sát không thực hiện được vì các sĩ quan Hoa Kỳ không đi theo các trung tâm Hành quân qua Lào. Để hoạt động không yểm được thuận lợi, phía lực lượng VNCH phải cử các sĩ quan tiền sát viên Việt Nam thạo Anh ngữ bay kèm theo phi cơ quan sát Hoa Kỳ để thông dịch. Đến ngày 23 tháng 1/1971, Quân đoàn 1 cho biết các trung tâm hành quân cấp sư đoàn sẽ ở lại Việt Nam, đặt trong khu vực Khe Sanh, điều này tạo dễ dàng cho vấn đề liên lạc Không-Lục, tuy nhiên vẫn cần phải có có sĩ quan tiền sát viên Việt Nam khá Anh ngữ giúp đỡ phi công quan sát Hoa Kỳ liên lạc với cấp chỉ huy các đơn vị VNCH trên bộ. Để yểm trợ Quân đoàn 1, Không lực 7 cung cấp hai chiến đấu cơ làm việc với phi cơ quan sát và thay thế theo chu kỳ 15 phút.
* Ngày N của giai đoạn 2
Ngày 27 tháng 1, ba ngày trước ngày D của giai đoạn 1, trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Quân đoàn 1, tổng chỉ huy lực lượng VNCH tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719, đã thông báo cho bộ chỉ huy Không yểm DASC rằng nỗ lực chính của lực lượng bộ chiến VNCH trong cuộc hành quân là gồm có 3 sư đoàn: Sư đoàn 1 BB, Sư đoàn Dù, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Khi đó, thêm 1 trung tâm Không trợ mới được thành lập tại Khe Sanh.Trong suốt cuộc hành quân, có 3 trung tâm hành quân và 3 trung tâm không yểm bên cạnh để yểm trợ các đơn vị bộ chiến VNCH. Ngày 8 tháng 2/1972, trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh hành quân Lam Sơn 719, cho lệnh các đơn vị VNCH khởi động cuộc tiến quân qua Lào, mở đầu trận chiến mới.



Nhận được tin buồn:
Image may contain: 1 person, hat and closeup
Ông Hoàng Xuân Lãm

Pháp Danh Chơn Lịch

Cựu Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I

Cựu Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp QLVNCH

Tốt nghiệp Khóa 3, Trần Hưng Đạo, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam


Đã từ trần ngày 2 tháng 5 năm 2017 

(
nhằm ngày 7 tháng 4 năm Đinh Dậu)

tại thành phố Davis, Bắc California.

Hưởng thọ 90 tuổi

Chúng tôi thành thật phân ưu cùng bà Hoàng Xuân Lãm và tang quyến, nguyện cầu hương linh của Trung Tướng sớm siêu thoát.

Trần Văn Chơn, Hồ Văn Kỳ Thoại, Lê Minh Đảo, Bồ Đại Kỳ, Cổ Tấn Tinh Chu, Hà Mai Việt, Trần Thanh Điền, Nguyễn Bá Trang, Bùi Cửu Viên, Phạm Mạnh Khuê, Phan Đình Minh, Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Văn Xét, Nguyễn Văn Quí, Cung Thúc Cần, Cao Mỵ Nhân, Lữ Bá Diệp, An Nguyễn KMD, Như Hảo, Phạm Đình San, Phạm Đình Khuông, Chu Bá Yến, Hoàng Đình Báu, Phạm Quốc Bảo, Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Trần Văn Thuần, Trần Tiễn San, Ngô Thế Vinh, Phạm Gia Cổn, Nguyễn Đạt Thịnh, Du Miên, Phạm Kim, Phan Tấn Ngưu, Nguyễn Phục Hưng, Phạm Văn Hòa, Trần Mạnh Chi, Lưu Anh Tuấn, Nguyễn Thiều Minh, Trần Quốc Bào, Thanh Huy, Nguyễn Sáng CB, Vĩnh Liêm, Hoàng Vinh, Phạm Phong Dinh, Thái Chi Hoa, Việt Hải và Dương Viết Điền.