Monday, May 30, 2016

Nguyên Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân V.N.C.H. TRẦN VĂN CHƠN



Tháng Năm, 2015, tôi sang California tham dự Đại Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân. Trong dịp này, tôi được gặp lại và thăm hỏi nhiều vị Cựu Chỉ Huy và rất nhiều bạn hữu của Minh. Vài người bạn hỏi tôi: “Minh chết rồi mà tại sao chị còn ‘thương’ Hải Quân quá vậy?” Tôi chỉ cười, không biết phải đáp như thế nào!

Khi cuộc vui tàn, trở về phòng tại khách sạn và suy nghĩ về câu hỏi của bạn hữu, tôi mới nhớ rằng: Tình cảm của tôi dành cho Hải Quân không phải chỉ vì Bố của các con tôi – Cố Hải Quân Trung Tá Hồ Quang Minh – là Hải Quân; mà mối tình cảm thánh thiện này được khơi động từ hơn nửa thế kỷ trước, trong vùng không gian lộng gió của bờ biển Nha Trang cùng âm vang của sóng gào hòa lẫn với những bản hùng ca do Ban Quân Nhạc Hải Quân hòa tấu và cũng từ những bộ quân phục tiểu lễ của Hải Quân.

Thật vậy, để minh chứng, tôi xin được trích một đoạn ngắn từ Tùy Bút Tưởng Như Trở Về của Điệp Mỹ Linh, được viết vào khoảng cuối thập niên 70 hay là đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, trong tập truyện Tưởng Như Trở Về: “… Cạnh những hàng thông này, dạo vừa cùng gia đình từ Dalat dời về Nha-Trang, mỗi chiều chủ nhật, tôi thích đến để nghe ban nhạc ‘Kèn Đồng’ (quân nhạc) của Hải-Quân hòa nhạc.

Thỉnh thoảng khán giả cũng ‘nổi máu nghệ sĩ’, tình nguyện hát một bản. Lúc ấy tôi chỉ hơn mười tuổi. Nhưng khi nghe một người hát ca khúc Viễn-Du tôi vẫn hiểu bản ấy không nên hát với ban nhạc ‘Kèn Đồng’ và trong khung cảnh này.

Tuy vậy, lời ca, tiếng nhạc cũng dẫn dắt hồn tôi đi thật xa. Nhìn trời lồng lộng, nhìn biển mênh mông và nhìn quân phục tiểu lễ trắng của nhạc công, tôi thích. Tôi buồn. Và tôi ước mơ…”

Sự vui thích, nỗi buồn không duyên cớ cũng như niềm ước mơ xa vời của đứa bé gái sắp bước vào tuổi “dậy thì” cứ sống mãi trong tôi. Đó là nguyên nhân xa và cũng là nguyên nhân gần làm cho ngòi bút của tôi lúc nào cũng muốn gửi đến độc giả những nét đẹp, nét lịch lãm cũng như lòng quả cảm và sự hào hùng của Hải Quân V.N.C.H.

Đối với tôi, Hải Quân V.N.C.H. – từ thủy thủ cho đến sĩ quan – đa số đều có những đặc tính rất khác lạ, rất đáng yêu và đôi khi đem nhiều đau khổ đến cho những “chiếc neo cũ kỷ” nơi “bến nhà”!

Những đặc tính khác lạ của Hải Quân là:

Khi chơi thì chơi hết mình. Điều này có lẽ ít ai, dù là trong hoặc ngoài gia đình Hải Quân, có thể phủ nhận được.

Khi yêu thì lãng mạn không ai bằng. Vâng! Mỗi khi “chàng” làm điều chi mà thấy “nàng” thoáng buồn hoặc có vẻ giận, “chàng” chỉ cần “mượn” lời ca bài Hoa Biển của Anh Thy để “ngân nga” nho nhỏ: “…Em ơi! Giận hờn, xin như hoa sóng tan trong đại dương…” hay là “chàng” hát nho nhỏ một đoạn trong tình khúc Xin Còn Gọi Tên Nhau của Trường Sa “…Lời nào gian giối cũng xin qua rồi. Để lỡ ngày sau khi ta cần nhau, còn đôi chút êm vui ngày đầu, cho mình mãi gọi thầm tên nhau…”  thì không một phụ nữ nào có thể không nguôi buồn và không hết giận!

Khi thi hành công vụ thì nghiêm chỉnh và luôn luôn nêu cao truyền thống. Điều này được tất cả quân nhân các cấp Hải Quân thể hiện một cách tuyệt vời trong suốt thời gian di tản quân bạn và đồng bào từ Vùng I và Vùng II Duyên Hải vào Saigon, tháng 3 năm 1975; và suốt cuộc hải trình từ Saigon ra Côn Sơn rồi từ Côn Sơn đến Guam vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 năm 1975.

Khi đụng trận thì tinh thần dũng cảm của quân nhân Hải Quân cũng không thua bất cứ một binh chủng thiện chiến nào của Quân Lực V.N.C.H. Thật vậy! Nếu Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Bộ Binh, v.v… có những trận đụng độ ác liệt với Việt Cộng tại Cổ Thành Quảng Trị, Tử Thủ An Lộc, Khê Sanh, Đồng Xoài, Pleime, v.v… thì Hải Quân cũng đã góp công không nhỏ trong những hải vụ tiếp cứu và hành quân hỗn hợp với Bộ Binh và Địa Phương Quân để giữ an ninh cho Vùng III và Vùng IV Sông Ngòi suốt cuộc chiến. Đến tháng 3 và tháng 4 năm 1975, máu lửa ngập trời trên Đường Số 7, do cuộc rút quân khỏi vùng Cao Nguyên và các cuộc lui binh dọc miền Duyên Hải thì tình hình chiến sự tại vùng III và Vùng IV Sông Ngòi vẫn “yên như bàn thạch”! Không một vị Tư Lệnh Vùng III và Vùng IV Sông Ngòi nào có thể phủ nhận vai trò quan trọng của Hải Quân trong sự bình yên tại Vùng III và Vùng IV Sông Ngòi!

Về những trận chiến dọc miền Duyên Hải, suốt cuộc chiến – ngoài chiến thắng phá hủy mật khu Vũng Rô và Duyên Đoàn 26 ở Bình Ba, dưới sự chỉ huy của Hải Quân Trung Úy Hồ Quang Minh – bắt được 2 ghe lớn của Trung Cộng giả ghe đánh cá, nhưng dưới lườn ghe toàn là vũ khí hạng nặng, Hải Quân V.N.C.H. còn có những đụng độ dữ dội với Bắc quân trong những trận sau đây:

·        Cửa Tiểu ngày 8/1/1966
·        Cửa Bồ Đề ngày 10/5/1966
·        Ba Động ngày 20/6/1966
·        Bồ Đề lần thứ hai ngày 1/1/1967
·        Mũi Ba Làng An (Batangan) ngày 14/3/1967
·        Sa Kỳ ngày 15/7/1967
·        Đức Phổ ngày 1/3/1967
·        Hòn Hèo gần Nha Trang ngày 1/3/1968
·        Cửa Việt ngày 1/3/1968
·        Bồ Đề lần thứ ba ngày 1/3/1968
·        Cửa Cung Hầu ngày 22/11/1970
·        Gành Hào ngày 12/4/1971
·        Trận đụng độ cuối cùng là ngày 24/4/1972 khi HQ 4 đánh chìm tàu địch, tại vùng biển Phú Quốc. (1)

Nếu đã đề cập đến những trận đụng độ lớn với Cộng Sản Việt Nam dọc bờ biển Nam Việt Nam mà không đề cập đến trận thư hùng giữa Hải Quân V.N.C.H. với “bậc thầy” của Việt Cộng – là Hải Quân Trung Cộng – thì bài viết này sẽ phạm một lỗi lớn !

Tôi muốn đề cập đến Trận Hải Chiến Hoàng Sa mà nhiều ngòi bút Hải Quân Việt Nam và Tây Phương đã tường trình, bình luận và phân tích.

Một trong những bài bình luận về trận hải chiến Hoàng Sa đã tạo nhiều tranh cãi và phản biện là bài của nhà báo chuyên nghiệp Bill Hayton; vì tính cách thiên vị và không được kiểm chứng tường tận của Bill Hayton.

Kính mời quý độc giả vào link dưới đây để đọc bài Điệp Mỹ Linh phản bác bài viết của nhà báo Bill Hayton về những nhận xét thiếu trung thực của Ông đối với trận Hải Chiến Hoàng Sa cũng như đối với Người Lính V.N.C.H. – nói chung – và Hải Quân V.N.C.H., nói riêng:

Trận Hải Chiến Hoàng Sa được đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải – Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại – với sự yểm trợ của Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn.

Tôi được hân hạnh quen biết Cựu Phó Đề Đốc Thoại; vì Minh đã phục vụ tại vài đơn vị dưới sự chỉ huy của Cựu Phó Đề Đốc Thoại khi Ông còn là Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Duyên Khu II. Về sau, theo đà lớn mạnh của Hải Quân, Duyên Khu II được đổi thành Vùng II Duyên Hải.

Và tôi được hân hạnh gặp Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn, lúc Ông còn là Hải Quân Đại Tá, vào dịp Giang Đoàn 30 Xung Phong – dưới sự chỉ huy của Hải Quân Đại Úy Hồ Quang Minh – tổ chức tiệc khao quân mừng chiến thắng Tam Giác Sắt.

Bữa tiệc khao quân được tổ chức rất trang trọng tại Câu Lạc Bộ Nổi của Hải Quân. Minh bảo tôi phải góp vui với nhân viên Giang Đoàn 30. Tôi độc tấu Accordéon bài luân vũ Le Beau Danube Bleu của John Strauss.

Sau khi đàn xong, tôi chưa kịp mang lại đôi găng tay, Minh đến, bảo tôi phải “trình diện” Tư Lệnh Trần Văn Chơn!

Thấy Minh và tôi bước đến bàn, Tư Lệnh Trần Văn Chơn đứng lên. Thái độ lịch sự của Tư Lệnh chinh phục ngay lòng quý mến của tôi. Minh đứng nghiêm, đưa tay phải lên, chào. Sau khi Minh giới thiệu tôi, tôi cúi chào Tư Lệnh với tất cả sự kính trọng. Tư Lệnh Trần Văn Chơn hỏi thăm tôi và các con tôi, rồi, thật bất ngờ, Ông xoay sang, “dũa” Minh: “Chú mày có vợ đẹp, con ngoan, vợ có tài thì chú mày lo tu tỉnh đi, nghe chưa?” Minh đứng “thẳng băng”, không dám “nhúc nhích”!

Trên đây là một kỷ niệm khó quên. Nhưng kỷ niệm khiến Minh và tôi cảm động nhất lại là, năm 1995, sau khi được Cộng Sản Việt Nam trả tự do, Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn đến Mỹ, Hội Hải Quân tại Houston mời Ông đến viếng Houston. Ban Tổ Chức hỏi Cựu Đề Đốc Chơn, thời gian ở Houston, Ông muốn ngụ tại khách sạn hay là muốn ngụ lại nhà ai? Cựu Đề Đốc Chơn đáp, muốn ở lại nhà Hồ Quang Minh.

Thời gian Cựu Đề Đốc Chơn ngụ tại nhà tôi, mỗi ngày Hội Hải Quân nhờ người đưa đón Ông đi chơi khắp nơi trong thành phố Houston; vì Minh và tôi phải đi làm. Minh bảo tôi tổ chức một bữa tiệc vào cuối tuần để Cựu Đề Đốc Chơn mời những người bạn thâm giao của Ông; Minh và tôi cũng được dịp mời bạn hữu của chúng tôi.

Để chuẩn bị cho bữa tiệc nơi deck, ngoài sân sau, Minh lo don dẹp và tôi lo nấu ăn. Cựu Đề Đốc Chơn từ trên lầu đi xuống, thấy tôi đang xắt lạp xưởng, Ông cười, kể cho Minh và tôi nghe về những ngày Ông ở tù Cộng Sản.

Cựu Đề Đốc Chơn kể, lần đầu tiên được Phu Nhân thăm nuôi, Ông thấy Bà đem cho Ông mấy cặp lạp xưởng. Tên quản giáo lục xét giỏ thức ăn từ tay Bà rồi quát : “Đem nến làm gì mà đem lắm thế ? Ở đây có đèn chứ không hay sao mà đem nến?” Minh và tôi cười. Cựu Đề Đốc Chơn bảo: “Đừng! Đừng cười! Người ta dốt nát, nghèo khổ, không biết món ăn, nên thương hại người ta. Đừng cười!”

Từ chi tiết này, tôi nhận thấy, cựu Tư Lệnh Trần Văn Chơn là một Võ Tướng nhưng Ông lại có tâm hồn cao thượng và lòng độ lượng hơn cả vài Thiền Sư và Linh Mục!

Và lý do tôi viết về cựu Tư Lệnh Trần Văn Chơn chính là sự cao thượng và lòng bao dung của Ông.

Sau khi tìm hiểu, tôi được biết: Năm 1938, ông Trần Văn Chơn nhập học khóa Cơ Khí Hàng Hải thuộc Trường Ecole Rosel – sau đổi tên là Ecole Technique Speciale; rồi lại đổi thành Trường Kỹ Thuật. Năm 1941, Ông tốt nghiệp bằng Kỹ Thuật và tiếp tục học khóa Vô Tuyến Truyền Tin Hàng Hải. Năm 1942 Ông tốt nghiệp khóa Vô Tuyến Truyền Tin Hàng Hải  và hành nghề sĩ quan trên các thương thuyền.

Năm 1948, ông Trần Văn Chơn theo học khóa Hàng Hải, thuộc Trường Kỹ Thuật cùng với ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Lâm Ngươn Tánh và ông Chung Tấn Cang. Sau khi tốt nghiệp bằng Thuyền Trưởng, ông Nguyễn Văn Thiệu ghi danh vào khóa đầu tiên tại Trường Võ Bị Huế – tiền thân của Trường Võ Bị Dalat – và sau này ông Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng Thống V.N.C.H. Ông Lâm Ngươn Tánh, ông Chung Tấn Cang và ông Trần Văn Chơn hành nghề Hàng Hải Thương Thuyền.

Sau nhiều năm phục vụ trên các thương thuyền, ông Trần Văn Chơn cùng ông Chung Tấn Cang và ông Lâm Ngươn Tánh được tuyển vào khóa I sĩ quan Hải Quân Nha Trang. Vì Trường xây cất chưa xong cho nên sinh viên khóa I – gồm 9 người – phải tạm trú và học hành trên Hàng Không Mẫu Hạm Arromanches của Hải Quân Pháp.

Ông Trần Văn Chơn đỗ thủ khoa khóa I sĩ quan Hải Quân Nha Trang. Ông là sĩ quan Hải Quân Việt Nam đầu tiên được du học và tốt nghiệp trường Hải Chiến Hoa Kỳ (Naval War College) Newport, Rhode Island.

Trong thời gian là Tư Lệnh Hải Quân, Đề Đốc Trần Văn Chơn đã có sáng kiến và đôn đốc việc xây Tượng Đài Đức Thánh Tổ Trần Hưng Đạo tại bến Bạch Đằng, Saigon. Công trình xây dựng Tượng Thánh Tổ cũng được sự yểm trợ của Hội Thánh Trần Hưng Đạo. Tượng do điêu khắc gia Pham Thông thiết kế và thực hiện. (2)

Tháng Tư năm 1975, vì lòng hiếu đạo đối với Cha Mẹ, Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn đã không di tản – dù Ông đã được Hoa Kỳ thông báo là sẽ cấp phương tiện hàng không để Ông cùng gia đình ra đi. Không bao giờ Ông ân hận, mà ngược lại, Ông rất vui lòng về quyết định không di tản để thể hiện lòng hiếu thảo của Ông đối với Song Thân; dù sau đó Ông bị Cộng Sản Việt Nam cầm tù gần 13 năm!

Sau khi mãn tù Cộng Sản, Ông định cư tại Mỹ, California. Để trau dồi kiến thức, Ông trở lại học đường với số tuổi ngoài 70! Ông tốt nghiệp ngành Interdisciplinary Studies tại San Jose/Evergreen Community College và chuyển qua San Jose State University, học về Political Science.

Ngoài ra, Ông cũng tham dự hầu như tất cả mọi sinh hoạt trong cộng đồng và các hội đoàn Quân, Cán, Chính thuộc Thành phố San Jose và Quận Santa Clara.

Năm 2014, Ông được bà Cindy Chavez – Supervisor of Santa Clara County – trao tặng Certificate of Recommendation.

Năm 2015, Ông nhận được Certificate of Special Congressional Recognition của U.S. House of Representatives do bà Zoe Lofgren trao tặng.

 Đề Đốc Trần Văn Chơn và Đô Đốc Elmo Zumwalt
cùng sánh vai chiến đấu trong đầu thập niên 1960

Ông là Cựu Tư Lệnh Hải Quân V.N.C.H. được Hải Quân Hoa Kỳ mời tham dự buổi lễ đặt tên cho Khu Trục Hạm tối tân USS Zumwalt, ngày 19 tháng 10 năm 2013, tại Bath Iron Work, tiểu bang Maine.

Khu trục hạm Zumwalt (DDG - 1000) do Tư Lệnh Hải Quân thứ 19 của Hải Quân Hoa Kỳ – Đô Đốc Elmo Zumwalt – thiết kế. Đô Đốc Elmo Zumwalt nguyên là cố vấn của Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. (3)

Đề Đốc Trần Văn Chơn và người bạn cùng khóa I sĩ quan Hải Quân – Cố Đô Đốc Chung Tấn Cang – là 2 vị sĩ quan được bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Hải Quân hai lần. Trong thời gian tại chức, cả hai vị Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn và Tư Lệnh Hải Quân Chung Tấn Cang, mỗi vị đều lưu dấu rất đặc biệt vào Quân Sử Hải Quân V.N.C.H. cũng như lịch sử Việt Nam cận đại.

Đó là Trận Hải Chiến Hoàng Sa, xảy ra khi Đề Đốc Trần Văn Chơn là Tư Lệnh Hải Quân; và Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Ra Khơi, 1975 do quyết định thức thời, sáng suốt cũng như sự đôn đốc của Phó Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân Chung Tấn Cang. (4) 

Xin trở lại với Đề Đốc Trần Văn Chơn và Trận Hải Chiến Hoàng Sa.

Trong khi những biến động đang xảy ra tại Vùng I Duyên Hải và Hoàng Sa thì Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn Thiện – Chỉ Huy Trưởng Hải Đội II Chuyển Vận – đang trợ giúp Hạm Trưởng Hải Vận Hạm Hậu Giang, HQ406, để xem xét, điều động việc sửa chữa hầm nước phía trước của HQ406, do giông gió lớn đẩy HQ406, làm bể lườn chiến hạm khi chiến hạm đang đỗ quân cụ tại Chutt, Nha Trang.

Đang thực hiện công tác cứu chiến hạm HQ406, Đại Tá Thiện được Hải Quân Đại Tá Lê Hữu Dõng – Tư Lệnh Phó Vùng II Duyên Hải – thông báo rằng có công điện gọi Đại Tá Thiện ra Đà Nẵng để trình diện Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn. Nhưng, vì tìm không được phương tiện đi Đà Nẵng, Đại Tá Thiện bay về Saigon trình diện Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy – Tham Mưu Trưởng Hải Quân – rồi nhận sự vu lệnh đi Đà Nẵng. (5)

Ngày 17/1/74 Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh – Tư Lệnh Phó Hải Quân – đi Đà Nẵng, Vùng I Duyên Hải, về vấn đề Hoàng Sa.

Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn cũng chuẩn bị đi Đà Nẵng; vì tình hình quân sự tại Hoàng Sa đang sôi động! Nhưng, Ông nhận được điện thoại từ Hải Quân Đại Tá Trần Thanh Điền – tùy viên của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu – thông báo rằng Thổng Thống  muốn gặp Đề Đốc Chơn vào sáng hôm sau tại Dalat.

Đề Đốc Trần Văn Chơn dời chuyến đi Đà Nẵng lại để sáng hôm sau Ông có mặt tại Dalat, tham dự Lễ Mãn Khóa 26 Võ Bị Quốc Gia Việt Nam với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Ngày 18/1/1974 Tại Dalat, nơi Vũ Đình Trường Lê Lợi Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, trước sự chủ tọa của Tổng Thống V.N.C.H. Nguyễn Văn Thiệu và các quan khách, 175 sinh viên sĩ quan khóa 26 – khóa Nguyễn Viết Thanh – đã tuyên thệ để trở thành tân sĩ quan hiện dịch; 22 tân Thiếu Úy về phục vụ Hải Quân; 15 tân sĩ quan về Không Quân; số sĩ quan còn lại được phân phối đến các binh chủng và sư đoàn. (6)

Sau lễ mãn khóa 26 tại Trường Võ Bị, Đề Đốc Trần Văn Chơn trở về Saigon.

Sáng 19/1/74 Đề Đốc Trần Văn Chơn đi Đà Nẵng.

Trận Hải Chiến tại Hoàng Sa kéo dài – khoảng 30 phút – trong thời gian phi cơ đang đưa Đề Đốc Trần Văn Chơn từ Saigon đến Đà Nẵng!

Khi phi cơ đưa Đề Đốc Chơn và đoàn tùy tùng, gồm có Hải Quân Đại Tá Võ Sum, Hải Quân Đại Tá Nguyễn Ngọc Quỳnh, Hải Quân Thiếu Tá Văn Trung Quân – tùy viên của Đề Đốc Chơn – và Trung Sĩ Trương Sở Phước cùng vài hạ sĩ quan và binh sĩ Hải Quân đến phi trường Đà Nẵng thì Trận Hải Chiến Hoàng Sa đã kết thúc!

Đón Tư Lệnh Trần Văn Chơn tại phi trường Đà Nẵng có Đề Đốc Tánh và Phó Đề Đốc Thoại.

Sau khi đưa Đề Đốc Chơn đến Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng, Phó Đề Đốc Thoại thuyết trình về trận chiến và trình với Đề Đốc Chơn rằng chính Phó Đề Đốc Thoại và Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc quyết định tấn công trước để tránh thiệt hại.(7)

Đề Đốc Chơn chỉ thị Phó Đề Đốc Thoại ra lệnh cho các chiến hạm và chiến đỉnh đang hoạt động ngoài biển cố gắng tìm kiếm và cấp cứu những chiếc bè đã rời khỏi Trợ Chiến Hạm Nhựt Tảo, HQ10.

Hai mươi ba quân nhân Hải Quân Việt Nam trôi dạt trên bè được tàu dầu của hãng Shell, Hòa Lan vớt.

Ngày 20/1/1974 Khoảng 7 hoặc 8 giờ sáng, Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt, HQ16 – đã bị trúng hải pháo của Trung Cộng tại Hoàng Sa – vào vịnh Tiên Sa Đà Nẵng. Nhưng, vì độ nghiêng của chiến hạm vượt quá mứt an toàn, Hạm Trưởng Lê Văn Thự không thể vận chuyển cặp cầu được. Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải phải nhờ tàu dòng của Ty Thương Cảng Đà Nẵng, kẹp ngang hông HQ16 mà cặp cầu quân cảng Đà Nẵng. (8)

Thương binh được đưa đến quân y viện Duy Tân, Đà Nẵng để điều trị.

Đề Đốc Chơn, Đề Đốc Tánh, Phó Đề Đốc Thoại, Đại Tá Thiện, Đại Tá Quỳnh, Hải Quân Trung Tá Huỳnh Duy Thiệp – giám đốc Thương Cảng Đà Nẵng – Thiếu Tá Quân cùng nhiều sĩ quan khác lên chiến hạm Lý Thường Kiệt ngợi khen thủy thủ đoàn và đến quân y viện Duy Tân thăm hỏi và an ủi thương binh.

Ngày 21/1/1974 và 22/1/1974 Đề Đốc Trần Văn Chơn cũng vẫn cùng các sĩ quan tiếp tục thăm viếng và an ủi thương binh – cả Hải Quân, Người Nhái, Địa Phương Quân, Thủy Quân Lục Chiến, v.v…

Ngày 23/1/1974 Đại Tá Trần Thanh Điền điện thoại trình cho Đề Đốc Chơn hay rằng sẽ có buổi họp Tư Lệnh các quân binh chủng vào ngày mai, tại Phan Thiết.

Đề Đốc Tánh và Phó Đề Đốc Thoại tiễn Đề Đốc Chơn, Đại Tá Quỳnh cùng phái đoàn  đến tận cửa chiếc Caribou thuộc Phi Hành Đoàn Phi Đoàn 427. Đại Úy Nguyễn Kim là Trưởng phi cơ và Thiếu Úy Tấn là Copilot. (9)

Gần tới không phận Biên Hòa, bất ngờ Thiếu Tá Quân thấy ánh lửa bừng sáng bên cánh phải của phi cơ và nghe tiếng nổ; vì phi cơ kín gió – airtight – cho nên không thể nghe rõ được. Phi cơ rung chuyển, lắc mạnh, chao đảo vài phút rồi lấy lại thế cân bằng, bay tiếp.

Đến không phận Biên Hòa, phi công đáp xuống phi trường Biên Hòa. Sau khi phi cơ dừng tại phi đạo thì máy tắt, không di chuyển được! Phi công từ cửa trên nhìn ra, thấy máy bên phải bị vỡ tung. Phi công cho biết rất may mắn, nhờ dây cable lái không bị đứt cho nên phi cơ vẫn còn điều khiển được và đáp an toàn.

Đề Đốc Chơn và tất cả mọi người cùng chụp hình trên cánh phi cơ bị trúng đạn, để lưu niệm. 

Hình chụp trên cánh phi cơ nơi động cơ bị trúng đạn nổ tung, từ trái sang phải:
Phi hành đoàn, Đề Đốc Tư Lịnh Trần Văn Chơn (giữa), Đại Tá Quỳnh, Trung sĩ Phước.
Hàng sau cùng ở giửa: Thiếu Tá Quân.  Hai sĩ quan đội Calô là Đại Úy  Nguyễn Kim và Thiếu úy Tấn.
Hình này do Trung Sĩ Trương Sở Phước tặng Cựu Đề Đốc Tư Lệnh Trần Văn Chơn khi Ông vừa mãn tù Cộng Sản, qua Mỹ. (10)

Bài viết này chỉ với mục đích nêu lên những sự kiện có thật từ tài liệu và tư liệu của những nhân chứng hiện còn sống để làm sáng tỏ nhiều chi tiết quan trọng mà vài cuốn sách cũng như những bài viết về Trận Hải Chiến Hoàng Sa đã – hoặc cố ý hoặc vô tình – không đề cập đến.

Trong khi truy tìm tài liệu và tư liệu để viết bài này – cũng như suốt thời gian dài phỏng vấn rất nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ để thực hiện cuốn Tài Liệu Lịch Sử Hải Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975 – tôi được biết rằng quân nhân các cấp thuộc quân chủng Hải Quân V.N.C.H. đều dành cho Cựu Tư Lệnh Hải Quân V.N.C.H. Trần Văn Chơn rất nhiều thiện cảm và lòng quý trọng.

ĐIỆP MỸ LINH
Chú thích :
1.- Tài liệu của cựu Hải Quân Thiếu Tá Phan Lạc Tiếp
2.- Điệp Mỹ Linh phỏng vấn điêu khắc gia Phạm Thông.
3.- Vietpress USA
4.- Kính mời quý độc giả xem tài liệu này tại link : http://www.diepmylinh.com/hqvnch-ra-khoi)
5.- Tư liệu của cựu Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn Thiện
6.- Tư liệu từ cựu Hải Quân Trung Úy Đào Quý Hùng, cựu Đại Úy Biệt Động Quân Nguyễn Phán và cựu Hải Quân Đại Tá Đặng Đình Hiệp.
7.- Can Trường Trong Chiến Bại của cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại.
8.- Tài liệu của ông Lê Văn Thự, cựu Hạm Trưởng HQ16.
9.- Tư liệu từ cựu Trung Tá Không Quân Cần và cựu Thiếu Tá Không Quân Đặng Văn Âu.
10.- Tư liệu của cựu Hải Quân Thiếu Tá Văn Trung Quân.

Sunday, February 21, 2016

Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai (1929-2016)

 Số Quân: 49/118.249
Sanh tháng 6 năm 1929 tại Bến Tre

1951: Theo học khóa 5 Hoàng Diệu Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt
1952: Tt nghiệp cấp bậc Thiếu Úy, ra trường phục vụ tại Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đồn trú tại Hà Nội.
1954: Sau hiệp định Geneve 20.7.1954 TD3 Nhảy Dù di chuyển từ Hà Nội vào Nha Trang.
1955: Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù 
1959: 26 tháng 10 thăng cấp Thiếu Tá tạm thời
1960: Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù 
1962: Ngày 1-1 Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù (Tân Lập)
1965: Trung Tá Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 25 Bộ Binh
1966: Ngày 15 tháng 9, Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 10 Bộ Binh
1967: Sư Đoàn 10 Bộ Binh cải danh thành Sư Đoàn 18 Bộ Binh, cuối năm 1967 vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức
1969: Ngày 20 tháng 8, bàn giao chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh cho Chuẩn Tướng Lâm Quang Thơ.
1972: Tháng 8, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân
1974: Vinh Thăng Thiếu Tướng nhiệm chức
1975: Sau 30 tháng 4 bị tù Cộng Sản cho đến ngày 5.5.1992
1993: Ngày 26 tháng 10 định cư tại Garland Tiểu Bang Texas Hoa Kỳ 
2016: Ông mất ngày 21 tháng 2 năm 2016 tại Garland, Texas Hoa K Hưởng Đại thọ 87 tuổi   
 





Lời Cảm Tạ


Trong tâm tình chân thành cảm tạ hồng ân Thiên Chúa,
Toàn thể gia đình chúng tôi xin ghi ơn Quý Cha, Quý Vị trong Ban Chấp Hành và Hội Đồng Mục Vụ giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Quý ca đoàn, Quý Hội đoàn, Quý Ông Bà, Chú Bác, Cô Dì, Quý Ân nhân, Quý Thân nhân, cùng Quý Bằng hữu xa gần,
Đã yêu thương, ân cần, thăm viếng, nâng đỡ, ủi an, thư từ, điện thọai chia buồn, điện thư phân ưu, và cầu nguyện hiệp dâng Thánh Lễ cùng tiễn đưa người thân yêu của chúng tôi là

            Cụ Ông Edmond Đỗ-Kế-Giai

Đến nơi an nghĩ cuối cùng.
Nguyện xin Thiên Chúa thương ban mọi ơn lành cho Quý Cha, cùng toàn thể Quý Vị và gia quyến.

Trong lúc tang gia bối rối, gia đình chúng tôi không thể tránh khỏi nhiều điều thiế́u sót, kính xin Quý Cha, và Quý Vị niệm tình thứ tha.
                        Toàn thể Tang gia đồng cảm tạ





















 

 Trung Úy KQ Phan Văn Phúc, Cựu Chuẩn Tướng KQ Đặng Đình Linh và  Tướng Đỗ Kế Giai (Dallas Texas U.S.A. 26 tháng 1 năm 2016)

…“Ý thức hệ miền Nam kiếp nạn
Chín năm cố quốc dạ nào quên.
Không xoay thế cuộc, anh hùng lụy
Hào kiệt ngục trung, nợ nước đền.
Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời.
Mài gươm rồi để hận đời
Chôn vùi thế hệ lụy người tù chung.
Oán thế nhân, xin đừng trách nữa
Lỗi lầm này hãy sửa sai chung.
Ðem xương máu học bài đắt giá
Chi đem thành bại luận anh hùng.
(Ðỗ Kế Giai-1984)
 Trích thơ làm trong tù Cộng Sàn tại Bắc Việt

 Thiếu Úy Lâm NKT, Chị Lam Ngọc và Th/Tướng Giai 1/2016 Dallas

       

Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai sinh năm 1929 tại Bến Tre, ông theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên Quân Ðà Lạt, ra trường vào tháng 4 năm 1952.
Đơn vị đầu tiên của ông là Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, đóng tại Bắc Việt. Lần lượt ông đã giữ các chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù, chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 2 Nhảy Dù (1962), tham mưu trưởng Sư Ðoàn 25 BB, tư lệnh Sư Ðoàn 10 BB (tiền thân của SÐ 18BB-1966).

Năm 1967 ông mang cấp bậc chuẩn tướng. Năm 1972, ông là chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Ðộng Quân và được vinh thăng thiếu tướng vào tháng 4 năm 1974.

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp đưa cả gia đình ông đi Mỹ, nhưng vì trách nhiệm của một tướng không rời bỏ đồng đội ông quyết định ở lại.

Ngày 15 tháng 5 năm 1975, Cộng Sản đến nhà mời ông đi họp và đưa thẳng vào khám Chí Hòa, sau đó đưa ông cùng với các vị tướng lãnh khác ra Bắc Việt.

Ðến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm ông mới được trả tự do, là một trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại với Thiếu Tướng Trần Bá Di, Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo và Chuẩn Tướng Thiếu Tướng Lê Văn Thân.

Ông và gia đình được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 và định cư tại thành phố Garland, Texas.

Chiều ngày hôm nay Chủ Nhật 21 tháng 02 năm 2016, Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai từ trần bên gia đình, thân thuộc và đồng đội tại Dallas, Texas, Hoa Kỳ.

 

Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai

Phạm Huy Sảnh


       Vào ngày đầu năm tôi thường điện thoại thăm hỏi quý tướng lãnh, niên trưởng, ân nhân, bằng hữu v.v..., trong số các vị tướng lãnh có Thiếu tướng Đỗ Kế Giai.  Ông xuất thân khóa 5 Võ Bị Đà Lạt (ra trường tháng 4/1952), về phục vụ Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội.  Năm 1954, tôi đáo nhậm Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù tại Đồng Đế Nha Trang, ông đã là Trung uý, giữ chức vụ "Oficial Adjoint" cho Thiếu tá Mollo là Tiểu đoàn trưởng.  Chức vụ của Trung úy Giai tương tự như Sĩ quan Hành quân Tiểu đoàn thời sau nầy.  Mối liên hệ giữa ông với tôi bắt đầu từ đó.  Năm nay, ngoài việc thăm hỏi thường lệ, mục đích chính của bài viết xoay quanh câu chuyện Biệt Động Quân vào những ngày cuối 30-4-1975. Sau đây là phần phỏng vấn:
       Phạm Huy Sảnh: Xin niên trưởng cho biết về nhiệm vụ và phối trí lực lượng Biệt Động Quân trong những ngày chót quanh Thủ đô.
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Vào những ngày tháng cuối truớc khi mất Nam Việt Nam, tôi là Tư Lệnh Lực Lượng Biệt Động Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dưới quyền có 2 Sư Đoàn: Sư Đoàn 106 Biệt Động Quân do Đại tá Nguyễn Văn Lộc chỉ huy trách nhiệm bảo vệ Biệt Khu Thủ Đô.  Bộ Tư Lệnh Hành Quân và Pháo Binh cơ hữu đặt tại trường đua Phú Thọ.  Vào thời điểm nầy, tổ chức của mỗi Sư Đoàn Biệt Động Quân gồm 3 Liên Đoàn, mỗi Liên Đoàn ngoài 3 Tiểu đoàn tác chiến và 1 Đại đội Trinh Sát, còn có một Pháo đội (6 khẩu) 105 ly cơ hữu.  Sư Đoàn thứ hai là Sư Đoàn 101 Biệt Động Quân do Đại tá Nguyễn Thành Chuẩn chỉ huy, nhiệm vụ tổng trừ bị, án ngữ phía Bắc Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.  Sư Đoàn thứ 3 đang hình thành mới được hai Liên Đoàn đóng tại căn cứ Long Bình.
       Phạm Huy Sảnh: Tinh thần quân sĩ Biệt Động Quân lúc đó ra sao?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Trong suốt nhiều tuần lễ trước 30-4-1975, tôi liên tục đi thăm các đơn vị trực thuộc.  Tại mọi nơi tôi đều ra lệnh lực lượng Biệt Động Quân tử thủ bảo vệ Sài Gòn theo lệnh của cấp trên. Tinh thần chiến đấu của anh em Biệt Động Quân rất cao, cũng như đạn dược và tiếp vận đầy đủ. Sau ngày ông Thiệu và ông Khiêm rời khỏi nước cùng với việc người Mỹ di tản nhân viên Việt Nam của họ và gia đình khỏi Sài Gòn thì tình hình tại Thủ Đô lúc này trở nên xáo trộn. Dân chúng, cán bộ chính quyền hoang mang sợ hãi. Những tin tức thất thiệt bất lợi cho VNCH ảnh hưởng tai hại đến số quân nhân và gia đình tại Sài Gòn. Trước hoàn cảnh bi đát đó, cảm thông những lo âu của thuộc cấp, tôi cho lệnh tập họp các quân nhân mọi cấp tại Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân, lúc đó đóng tại Sài Gòn và ra lệnh: (nguyên văn) "Trên cương vị là Tư lệnh Biệt Động Quân, tôi tuyệt đối tuân hành lệnh của thượng cấp nghĩa là Biệt Động Quân chúng ta quyết tâm bảo vệ Thủ Đô và dân chúng Sài Gòn. Tuy nhiên vì tình hình ở ngoài dân chúng quá sợ hãi, ảnh hưởng đến gia đình quân nhân. Truớc tình huống này ai muốn đi (đi Mỹ) và đi được thì cứ đi, nhưng nhớ rằng tôi không thể ra lệnh cho các anh bỏ đơn vị. Tôi chấp nhận làm ngơ coi như không biết những quân nhân và gia đình muốn rời khỏi VN."  Sau lệnh đó, tại Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân chỉ có 1 sĩ quan là Thiếu tá Tạ Thái Hòa, Chánh Văn Phòng của tôi đem gia đình đi Mỹ, còn tất cả quý vị khác từ. Tư Lệnh Phó, Tham Mưu Trưởng đến các Trưởng Phòng đều ở lại cho đến ngày 1-5-1975, bàn giao cho phía bên kia.  (Nhân chứng: Trung tá Hoàng Ngọc Liên, Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, và Thiếu tá Tạ Thái Hòa hiện đang ở Hoa Kỳ).
       Phạm Huy Sảnh: Xin cho biết về sự liên lạc giữa Biệt Động Quân và Bộ Tổng Tham Mưu hay ở cấp cao hơn mà Thiếu tướng gọi là "thượng cấp"?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Tại Bộ Tổng Tham Mưu, Trung tướng Vĩnh Lộc là Tổng Tham Mưu Trưởng trong những ngày cuối. Hàng ngày tôi vẫn vào Bộ Tổng Tham Mưu gặp Trung tướng Vĩnh Lộc để thảo luận về tình hình và nhận lệnh. Trước ngày 30-4, có một bữa tôi gặp Đại tá Trần Văn Thăng, nguyên Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội.  Ông hỏi tôi: "Tình hình nầy, Thiếu tướng đi hay ở?" Tôi trả lời: "Đi đâu? Tôi ở lại chiến đấu với anh em chứ!"  Sáng ngày 30-4, tôi đến Bộ Tổng Tham Mưu lại gặp Đại tá Trần Văn Thăng đang đứng trực cổng, tổ chức bố phòng.  Tôi dừng xe lại hỏi: "Đại tá Thăng đang làm gì đây?"  Ông cho biết ông trách nhiệm phòng thủ bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.  Ông nói: "Tôi có lực lượng Lôi Hổ.  Hôm trước tôi nghe Thiếu tướng sẽ ở lại chiến đấu với anh em. Thú thật tôi không tin nhưng hôm nay còn gặp Thiếu tướng tại đây, tôi mới tin!" Tạm biệt Đại tá Thăng, tôi vào gặp Trung tướng Vĩnh Lộc. Tôi thấy ông đang trò chuyện với Trung tướng Trần Văn Trung ở cầu thang.  Tôi hỏi ông có lệnh gì cho Biệt Động Quân không?  Ông trả lời: "Không có gì mới cả, anh về lo đơn vị đi!"  Trên đường về đơn vị, tôi đi một vòng quan sát tình hình thành phố Sài Gòn.  Về đến Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân vào lúc 10 giờ sáng.  Khoảng 10 phút sau, Sĩ quan Tuỳ Viên báo có điện thoại của ông Vũ Văn Mẫu. Ông Mẫu bảo tôi mở radio nghe Trung tướ ng Dương Văn Minh nói chuyện. Tôi mở máy. Lời hiệu triệu của ông Minh dài. Tóm tắt, tôi chỉ nhớ 3 điều liên hệ đến tôi và Biệt Động Quân:
  1. Các đơn vị ở đâu ở đó.
  2. Buông súng.
  3. Chờ phía bên kia đến để bàn giao.
       Độ 10 phút sau, lại có điện thoại của Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh từ Dinh Độc Lập. Ông Hạnh nói Tổng Thống nhắc lại: Lệnh của Tổng Thống là các đơn vị ở đâu ở đó, buông súng không chiến đấu và đợi phía "cách mạng" đến để bàn giao. Tôi dằn giọng trả lời: "Tôi biết" và cúp máy!  Khoảng 1 giờ sau, tôi lại được báo điện thoại của ông Vũ Văn Mẫu gọi.  Trên đầu giây, ông Mẫu bảo tôi là lệnh của Tổng thống, tôi lên ngay Bộ Tổng Tham Mưu thay thế Trung tướng Vĩnh Lộc để bàn giao cho phía bên kia.  Tôi trả lời ông Mẫu, tôi không thi hành lệnh này và nhờ ông Mẫu trình với Tướng Dương Văn Minh, đây là lần đầu tiên tôi không thi hành lệnh của thượng cấp!  Và nếu tôi biết trước rằng quý vị sẽ hành động như ngày hôm nay mà quý vị vừa ra lệnh cho tôi thì ... (!!!!) Ông tiếp,  tuy nhân chứng Vũ Văn Mẫu đã qua đời nhưng còn các sĩ quan khác của tôi đang có mặt tại Hoa Kỳ đã chứng kiến cuộc điện đàm của tôi và ông Mẫu vào hôm 30-4-1975 lúc 12giờ 30.        Phạm Huy Sảnh: Trong bữa cơm họp mặt các chiến hữu tại Seattle, tôi có dịp tiếp xúc với cựu Đại uý Lê Văn Khởi, nguyên Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân từ Pleiku rút về Dục Mỹ rồi trạm chót là căn cứ Long Bình để bổ sung quân số. Anh cho biết vào ngày 26 hay 27-4-1975, Thiếu tuớng có lên thăm đơn vị anh tại Long Bình. Trước hàng quân, Thiếu tướng đã ra lệnh Biệt Động Quân sẽ ở lại tử thủ bảo vệ Thủ Đô. Cựu Đại úy Khởi thắc mắc rằng khi thi hành lệnh đó, Thiếu tướng có biết rằng ông Dương Văn Minh sẽ đầu hàng Cộng Sản Bắc Việt?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Như đã nói ở phần trên về việc tôi ra lệnh lực lượng Biệt Động Quân tử thủ bảo vệ Thủ Đô, tôi xác nhận là đúng. Tôi không hề hay biết trực tiếp hay gián tiếp rằng ông Dương Văn Minh sẽ đầu hàng Cộng Sản cho đến khi ông ta đọc lệnh trên đài phát thanh vào sáng ngày 30-4-1975.  Tôi là một sĩ quan gốc nhảy dù, một tướng lãnh.  Truyền thống của Quân Lực là thi hành lệnh tuyệt đối. Trong tinh thần đó, tôi ra lệnh cho Biệt Động Quân phải tử thủ để chu toàn trách nhiệm. Riêng cá nhân tôi cùng các vị Tư Lệnh Sư Đoàn 106, Sư Đoàn 101, các Liên Đoàn Trưởng, các cán bộ chỉ huy, các đơn vị tác chiến cũng như những sĩ quan trong Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân đều đã ở lại cho đến phút chót.  Những điều tôi yêu cầu các chiến hữu Biệt Động Quân phải làm, cá nhân tôi cũng thực thi đúng như vậy. Cho nên sau này gặp lại các đồng đội trong trại tù Cộng Sản tôi không hổ thẹn với lương tâm.
       Phạm Huy Sảnh: Thiếu tướng trình diện hay bị Cộng Sản đến nhà bắt và kể từ lúc nào?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Sáng ngày 1-5-1975, sau khi bàn giao Biệt Động Quân cho cộng sản xong, tôi vào phòng riêng thay quần áo dân sự, đang tính đi bộ về nhà thì họ nói để họ lấy xe đưa về. Ngày 15-5-1975, đột nhiên, CS đem xe đến nhà mời tôi đi đến Quận 11 rồi sau đó chở thẳng vào khám Chí Hòa. Tôi chính thức bị nhốt từ ngày đó cho đến ngày 5-5-1992 được thả ra, thiếu 10 ngày thì đủ 17 năm tức là 6095 ngày tôi ở tù Cộng Sản.
       Phạm Huy Sảnh: Là một tướng lãnh, đương nhiên Thiếu tướng có những liên hệ mật thiết với các giới chức Hoa Kỳ tại Sài Gòn khi đó. Vậy có giới chức Hoa Kỳ nào tiếp xúc đề nghị Thiếu tướng rời khỏi VN?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Có, Tướng Times của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, liên tiếp vào các ngày 28 và 29 tháng 4-1975 đến gặp tôi và hỏi nếu tôi và gia đình muốn đi Mỹ, ông ta sẵn sàng giúp đỡ lo liệu.  Cả hai lần tôi đều cám ơn Tướng Times và từ khước đề nghị đó. Nại cớ tôi còn trách nhiệm, tôi còn quân sĩ, tôi không thể ra đi trong hoàn cảnh nầy được. Tướng Times hiện còn sống tại Hoa Kỳ, anh có thể phối kiểm điều đó.
       Phạm Huy Sảnh: Hôm nay, cảm nghĩ của Thiếu tướng về những ngày tháng cũ?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Bởi những lý do trên, tôi tự nhận đã làm tròn bổn phận, trách nhiệm của một Tướng Lãnh đối với đồng đội, với Tổ Quốc khi tại ngũ.  Và suốt gần 17 năm tù đày, trước mặt kẻ thù trong mọi hoàn cảnh tôi luôn cố gắng gìn giữ tác phong để bảo vệ Danh Dự của Quân Lực. - Đối với người Cộng Sản, dù họ không thích tôi nhưng họ không thể khinh tôi!  Những người Cộng Sản bắt giữ tôi vẫn còn đó.
       Phạm Huy Sảnh: Có phải Thiếu tướng là một trong những tướng lãnh được Cộng Sản thả vào đợt cuối cùng?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Đúng.  Trong đợt chót, chúng tôi gồm 4 người còn lại tôi, Đỗ Kế Giai, Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo.  Thật ra đây là 100 nguời chót CSVN không muốn thả ra vì chúng chủ trương nhốt cho đến chết.  Chúng tôi không hy vọng gì được về vào thời điểm đó.  Nhưng cũng nhờ sự tranh đấu, đòi hỏi của quý chiến hữu, đoàn thể chính trị, đồng hương tại hải ngoại đã tạo thành áp lực để CSVN phải thả gấp rút hơn.  Tuy nhiên việc thả 100 người vừa kể, CS cũng chia làm 8 đợt và 4 người chúng tôi là đợt cuối cùng. Tôi còn nhớ, hôm đó tại trại Hàm Tân, cán bộ nhà tù nói quý vị chuẩn bị chuyển trại, 30 phút nữa sẽ đi. Nhưng sau đó họ cho biết là 4 người chúng tôi sẽ được thả về và xe sẽ đến đưa từng người về nhà. Trong lúc đợi xe đến, anh em bàn với nhau, đề nghị tôi lớn tuổi nhất sẽ được đưa về trước, kế đến là Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, chót hết là Thiếu tướng Lê Minh Đảo là người nhỏ tuổi nhất.  Anh em đồng ý.  Nhưng khi xe của Cộng Sản đưa về thì họ lại làm nguợc lại, có nghĩa là họ đưa tướng Đảo về trước, cuối cùng là tôi.
       Phạm Huy Sảnh: Thiếu tướng và gia đình đến Mỹ năm nào?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Tôi và nhà tôi cùng 6 cháu đến Mỹ ngày 26-10-1993, hiện định cư tại thành phố Garland, TX.
       Phạm Huy Sảnh: Thiếu tướng nghĩ thế nào về những người đi trước?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Tôi quyết định ở lại vì tôi cho là hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi năm 1975.  Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể qui trách cho những người cầm súng giữ nước. Các Đơn Vị Quân Đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước Cộng Quân.  Quân Đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quí vị có ở lại thì trước sau cũng vô tù Cộng Sản như tụi tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cho quyền lợi của những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế, đi trước xây dựng được cuộc sống ổn định sau này có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên bàn về vấn đề trước, sau, mà mọi người phải cùng chung lưng gầy dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.
       Phạm Huy Sảnh: Qua cuộc đối thoại, tôi thấy Thiếu tướng có một trí nhớ đặc biệt. Thiếu tướng có định viết hồi ký?
       Thiếu tướng Đỗ Kế Giai: Không! Tôi dứt khoát là không. Vài năm trước đây và ngay bây giờ, có nhiều nhà xuất bản Mỹ và Việt đề nghị tôi viết hồi ký và họ sẽ giúp xuất bản. Tôi trả lời là đối với tôi điều nầy khó quá. Bởi nếu đã viết, thì phải nói hết, nói thật, mọi sự việc mà tôi nghe, tôi biết, tôi thấy.  Như vậy e rằng sẽ làm mất lòng nhiều người. Hơn nữa, vấn đề nầy tôi xin bày tỏ quan niệm tôi qua hai câu của người xưa:
BẠI BINH CHI TƯỚNG, BẤT KHẢ NGÔN DŨNG
VONG QUỐC CHI ĐẠI PHU, BẤT KHẢ NGÔN TRÍ.
(Tướng bại trận không thể nói mạnh.
Quan mất nước, không thể nói hay)
       Phạm Huy Sảnh: Cám ơn Thiếu tướng đã dành gần 3 giờ đồng hồ điện đàm trong ngày đầu năm. 


Nói Chuyện Với Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai


- Tạp Chí Trẻ -




Lời nói đầu của Phóng viên Tạp Chí Trẻ:
Qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Trọng Huấn, một Cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, thành viên Hội Quảng Đà Dallas -Fortworth, Texas, đã đưa chúng tôi đến thăm Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai tại Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt Cao Niên Garland, Texas.
Chúng tôi đến Trung Tâm vào giờ ăn trưa của các cụ nơi đây và được bác Đỗ, Giám đốc Trung Tâm tiếp đón. Bác Đỗ nhờ người thưa với Cựu Thiếu Tường Đỗ Kế Giai là có nhà báo chúng tôi xin được gặp ông, và mời ông Tướng ra phòng khách để cho chúng tôi được gặp. Bác Đỗ cho chúng tôi biết ông Đỗ Kế Giai hôm nay không được khoẻ lắm.
Rồi tôi thấy Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đi vào phòng khách của Trung Tâm. Hình ảnh một vị cao niên chống gậy vẫn không che được phong cách và uy nghi của một vị Tướng lãnh từng một thời oai vũ.
Chân dung và tiểu sử Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai được ghi lại không đầy đủ như sau:
Ông xuất thân Khoá 5 Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, ra trường Tháng 4/1952, ông về phục vụ Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, ông là sĩ quan hành quân “Officier Adjoint” cho Thiếu tá Mollo ở Đồng Đế, Nha Trang, với cấp bậc Trung úy. Cấp bậc cuối cùng của ông là Thiếu Tướng Biệt Động Quân, chỉ huy Lực Lượng bảo vệ Sài Gòn cho tới khi nhận lệnh buông súng…
Những người đàn anh của tôi ở đây là những cựu Trung úy, cựu Đại úy đang làm thiện nguyện ở Trung Tâm, các anh lo bữa ăn trưa cho vài chục cụ người Việt cao niên ở đây, các cụ đang … nói chuyện, chơi cờ, xem ca nhạc Asia và chờ cơm. Thấy Thiếu Tướng đi tới các anh đến mời ông đến chiếc ghế êm ả nhất phòng. Tôi cúi chào Thiếu Tướng.
Phóng Viên Trẻ: “Thưa bác, cháu là phóng viên Tạp Chí Trẻ. Xin được chào bác, chúc bác sức khoẻ. Xin được hỏi bác đôi điều…”
Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai: “Từ ngày xưa, tôi đánh giặc đã không thích kể chuyện đăng báo vì kể lể chiến công với báo chí tôi cho là việc tự kể cho đối phương nghe, biết chiến thuật của mình.
PV Trẻ: “Thưa bác, cháu xin không hỏi bác nhiều về những chuyện đã qua. Thay mặt Nhóm thực hiện báo Trẻ, cháu đến thăm hỏi sức khoẻ bác vì được nghe bác đã tham gia sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên Garland.”
CTTĐKGiai: “Nếu anh muốn hỏi gì thì phải đợi tôi nói xong hãy hỏi tiếp, đừng hỏi ngang làm tôi quên chuyện tôi đang nói…”
PV Trẻ: “Thưa bác, bác có viết quyển hồi ký nào không?”
CTTĐKGiai: “Tôi không viết hồi ký vì những đánh bóng cá nhân hay chạy tội trước lịch sử đều không phải là hồi ký. Theo thời gian, tôi chỉ nói ra những gì tôi thấy là cần thiết…
PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã trả lời. Xin hỏi bác đã đi “cải tạo” bao nhiêu năm?”
CTTĐKG: “Tôi không có đi cải tạo. Tôi đi tù.
PV Trẻ: “Xin lỗi bác, cháu chỉ muốn dùng lời nói cho nó nhẹ nhàng thôi!”
CTTĐKG: “Ngày tôi đi phỏng vấn ở Trụ Sở ODP để sang đây, có người thông dịch viên cũng hỏi tôi một câu như thế. Tôi cũng trả lời rõ ràng như thế. Và ông nhân viên Mỹ nói luôn với tôi: “Mời ông ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục.”
PV Trẻ: “Thưa bác, thời gian … ở tù của bác bao lâu?”
CTTĐKG: “17 năm thiếu 10 ngày.”
PV Trẻ: “Xin hỏi: Có phải bác là người đi tù sớm nhất và về trễ nhất?”
CTTĐKG: “Có thể. Ngày 15 tháng 5, 1975, họ đến nhà tôi, mời tôi đi họp nhưng thật ra là bắt tôi đi luôn từ đó. Lệnh tập trung những sĩ quan Quân lực VNCH vào Tháng 6, họ bắt tôi giữa Tháng 5. Có thể tôi là người đi tù sớm nhất!”
PV Trẻ: “Nhưng khi ấy họ chưa tổ chức kịp những trại tập trung thì họ đưa bác đi giam ở đâu?”
CTTĐKG: “Khám Chí Hoà. Một năm sau họ đưa tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Bữa sau nữa, họ đưa tôi ra Bắc.”
PV Trẻ: “Bác tù ở ngoài Bắc 17 năm. Khi trở về Nam, bác thấy miền Nam sau 17 năm kiểu cộng sản “giải phóng” thế nào?”
CTTĐKG: “Tôi không thích tiếng: giải phóng”!
Bác Giai im lặng-hồi tưởng. Mọi người im lặng-chờ đợi. Ở đây chỉ có những người trẻ làm thiện nguyện là đến trung tâm sinh hoạt cao niên này để phục vụ người già. Trong thái độ, ánh mắt, giọng nói của những người lính cũ, tôi cảm nhận được sự kính trọng Tướng Giai của họ như ngày họ còn tấm thẻ bài lính chiến trên ngực. Hình như với những người lính cũ, kỷ luật quân đội vẫn sống trong họ.
Bác Giai nói tiếp: “Hôm đó trong trại tù, một người thuộc Mặt Trận Giải Phóng miền Nam nói với tôi: “… Trong Quốc ca của các anh có câu: Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…, thì hôm nay chúng tôi đã giải phóng cho các anh rồi! Còn thắc mắc gì nữa!” Tôi nghe anh ta nói câu đó thì tức đến chết được, để rồi tôi nói cho các anh nghe về lịch sử bài quốc ca của Quốc Gia VNCH …”
Cuộc nói chuyện ngưng vì bác Đỗ đến mời vị Cựu Tướng đi ăn cơm, anh Tuấn và tôi được mời cùng ăn với vị Cựu Tướng. Bác Giai chống gậy, đi đứng đã có phần khó khăn, nhưng vẫn đi được một mình. Nhìn bác tự lo cho mình bữa ăn, tôi không biết ngày xưa, cấp Tướng thì có bao nhiêu người phục vụ? Tôi thấy ở ông phong cách tự tại, bình thản của một cụ già người Việt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên. Một chút ngậm ngùi nổi lên trong lòng tôi dù tôi thấy là vô lý. Bác Giai rất an nhiên, tự tại.
Tôi nói với bác Giai: “Hôm qua, cháu nói điện thoại với cô Kiều Mỹ Duyên. Cô gởi lời thăm bác.”
Ông ngồi yên như hồi tưởng lại những người quen biết cũ.
Thấy ông có vẻ xúc động, tôi hỏi thêm câu nữa: “Ngày xưa, chắc cô Kiều Mỹ Duyên đẹp lắm hả bác?”
Ông cười, nụ cười bí hiểm với ánh mắt trầm mặc sau làn kính cận dày. Nhưng sau đó … ông tỏ ra bớt “quạu”, chắc tâm tư sảng khoái nên ông ăn cơm thấy ngon. Tôi hỏi: “Cơm ngon không bác? Cháu thấy món thịt kho rất ngon.”
Ông trả lời nhẹ nhàng: “Ngon hơn cơm tù”.
Trên chiếc bàn trải khăn trắng muốt, đơn sơ, mỗi người một đĩa cơm có thịt kho, cải xào, chén canh đậu hũ trắng nấu với cà chua và thịt bằm. Trước mặt có ly trà, trái chuối để tráng miệng. Một phần ăn trưa rất bình thường ở Mỹ, bình thường đến nỗi người ăn chỉ làm công việc ăn chứ ít ai nghĩ đến ân sủng của Ơn Trên đã ban cho lương thực hàng ngày hay công lao người nấu bữa ăn, hoặc tiền chợ có từ đâu? Nhưng nghe bác Giai vừa ăn vừa nói chuyện, mọi người như mới nhận thức ra giá trị của bữa ăn hàng ngày, bác nói:
Từ ngày tôi ra tù đến nay, không bao giờ tôi bình phẩm về món ăn”.
Là một phóng viên chuyên thực hiện những cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có lẽ là lần thứ nhất tôi không muốn đóng vai trò phóng viên đặt câu hỏi mà chỉ muốn ngồi nghe câu chuyện của một chứng nhân lịch sử, một trong những “Tự điển sống” hiếm hoi còn lại tới bây giờ. Những câu hỏi về lịch sử không phù hợp với không gian, thời gian. Từng câu hỏi như những mũi kim chích vào ung nhọt quá khứ, nó có cái “đã” của một vết thương mưng mủ được tuôn ra, nhưng tiếp theo sau là nỗi buồn vết sẹo không lành sau mỗi câu trả lời của vị Cựu Tướng. Tôi tự thấy mình có lỗi trong những câu hỏi có thể gợi sự bất an, hay không vui trong lòng vị Cựu Tướng nên tôi chuyển sang chuyện khác, may ra cuộc trò chuyện được vui vẻ hơn.
PV Trẻ: “Thưa bác, hiện nay bác đến Trung Tâm này sinh hoạt hàng ngày hay sao?”
CTTĐKG: “Không, một tuần tôi đến đây ba ngày thôi.”
PV Trẻ: “Vậy, những ngày ở nhà thì bác làm gì? Bác đang sống với ai?”
CTTĐKG: “Tôi sống với hai người con trai của tôi. Hai con tôi qua đây đã lỡ tuổi, dở dang mọi chuyện nên chúng không lập gia đình. Công việc hàng ngày thì tôi làm được gì thì làm, được tới đâu hay tới đó.
PV Trẻ: “Bác có thường xuyên liên lạc với bạn hữu và các vị tướng lãnh xưa không ạ?”
CTTĐKG: “Ít khi. Từ hôm ra tù đã thế. Ngày ra tù, họ cho hay trong nửa ngày phải thu xếp rời trại. Tưởng chuyển trại thôi vì tôi tin là tôi sẽ ở tù tới chết. Không ngờ họ cho về. Tôi với Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là 4 người trong 100 người mà họ muốn giam tù cho tới chết. Nhưng nhờ sự đấu tranh của các chiến hữu, các vị đồng hương ở hải ngoại, tạo thành áp lực buộc họ phải thả chúng tôi. Bốn người chúng tôi là đợt cuối cùng trong 8 đợt thả 100 người tù cuối sổ. Lúc đợi xe đưa về Sài Gòn bốn chúng tôi tính với nhau: tôi sẽ được đưa về nhà trước vì là người lớn tuổi nhất trong anh em, kế đến là Trần Bá Di, tới Lê Văn Thân. Lê Minh Đảo trẻ tuổi nhất, sẽ về sau chót. Nhưng khi xe đưa chúng tôi về đến Sài Gòn thì những người áp giải chúng tôi làm ngược lại! Lê Minh Đảo được đưa về nhà trước nhất, tôi là người về nhà sau cùng.”
PV Trẻ: “Vậy, bác đúng là người đi tù trước nhất và về nhà sau cùng. Bác có không được vui về chuyện ấy không?”
CTTĐKG: “Từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, sau khi Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã rời Sài Gòn thì ngày 28, 29 Tháng Tư, tướng Times bên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp tôi đưa cả gia đình tôi đi ra nước ngoài. Nhưng tôi quyết định ở lại vì trách nhiệm.”
PV Trẻ: “Bác có ân hận về quyết đnh ở lại đó với 17 năm tù và về sau chót?”
CTTĐKG: “Không. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một Tướng lãnh với Tổ Quốc, với Quân đội, với đồng bào và đồng đội. Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ tác phong, danh dự của Quân Lực VNCH. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.
PV Trẻ: “Đối với bên kia, thì đã rõ về tác phong của bác. Nhưng đối với đồng đội, đặc biệt là với các vị Tướng đã bỏ nước ra đi vào những phút chót dầu sôi lửa bỏng, Bác nghĩ gì về họ?”
CTTĐKG: “Tôi quyết định ở lại vì tôi thấy hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi Tháng Tư năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể quy trách cho những người cầm súng giữ nước. Các đơn vị quân đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước cộng quân. Quân đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quý vị Tướng có ở lại trong nước thì trước sau các ông cũng vô tù như tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cứu vãn những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế, những người đi trước đa số đã thành công trong việc xây dựng được cuộc sống ổn định ở nước ngoài, nhờ đó ta có thể có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên nói nhiều nữa về chuyện đi hay không đi, đi trước - đi sau, mà mọi người nên, và phải cùng chung lưng xây dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.”
PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã cho nghe về lịch sử và những biến động ở Sài Gòn cũng như miền Nam vào những ngày cuối cùng của nền Cộng Hoà. Trong tương lai, bác có suy tư nào để chia sẻ với những người đời sau?”
CTTĐKG: “Những ngày lễ, ngày Tết, đặc biệt là Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, đều có những người trẻ tìm đến tôi để hỏi thăm. Tôi cảm ơn nhiều. Phần các cháu hỏi, thì câu trả lời của tôi còn đó, đến năm sau có thể ta sẽ lại gặp nhau. Các cháu hãy làm đi, làm những gì có thể làm cho quốc gia, dân tộc chúng ta khá hơn, hay hơn.”
PV Trẻ: “Cảm ơn lời chỉ dạy của bác. Xin được chào bác và để bác nghỉ. Xin chúc bác được nhiều sức khoẻ để làm chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ dấn thân vào việc xây dựng tương lai chung của chúng ta. Kính chào bác.”
Khi ngồi nghe chuyện Cựu Tướng Đỗ Kế Giai sau bữa ăn trưa ở Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt cao niên, những câu hỏi tôi đã chuẩn bị để hỏi ông không có cơ hội được tôi nói ra vì dòng hồi tưởng của vị Tướng Già cứ tuôn chảy theo ký ức và tâm cảm của ông. Hai nữa có những chuyện tôi không muốn hỏi sợ làm ông buồn.
Thế rồi bác Đỗ lái xe đưa bác Giai về tư gia. Trong cuộc sống âm thầm nơi viễn xứ, những người lính cũ vẫn sống bên nhau với tình đồng đội ngày nào. Thật đáng kính phục những người Lính Chiến của một Quân Lực oai hùng nay không còn nữa.
Tôi trở về toà soạn, ngồi gõ keyboard viết những dòng chữ này để Tưởng Niệm Tháng Tư 2009 gửi đến quí vị độc giả Tạp Chí Trẻ.



QLVNCH: Hoa VNCH : Thiếu Tướng Tư Lệnh Biệt Động Quân Đỗ Kế Giai.



Kính thưa các chiến hữu, anh chi em FB , chỉ còn vài ngày nữa đến ngày địa ngục trần gian, tôi xin giới thiệu cánh hoa VNCH nở trong trại tù K2/Tân Lập 25 năm trước để cùng nhau ngương mộ ! Trân trọng Hoa VNCH : Thiếu Tướng Tư Lịnh Biệt Quân Đỗ Kế Giai.

Câu chuyện xảy ra trong trại tù K2 Tân Lập khoảng năm 1989 mà tôi tin là ít ai biết, riêng tôi may mắn làm trong trại giam nên biết câu chuyện mà tôi tự đặt cái tên “HOA VNCH THIẾU TƯỚNG ĐỖ KẾ GIAI”, nay có dịp kể lại đậy cho chiến hữu và hậu duệ ngưỡng mộ cái khí khái ,cái dũng cảm của “loài hoa không vỡ” Đỗ Kế Giai .
Một buổi sáng nọ . . .
trong lúc tôi đang cặm cụi mài giũa sừng làm đồ mỹ nghệ thì có một tù hình sự diện rộng (là tù gần mãn hạng nên bọn cai tù cho làm phục vụ trà nươc hay sai vặt) và ngồi bên tôi và cất lời “chào bác ạ” , tôi hiểu ý nên miệng thì chào cháu tay thì lấy 1 gói mì gói cho nó, mục đích để mua chuộc nó hầu moi tin tức về sinh hoạt của bọn cai tù ! sau khi cất gói mì vào túi, nó cho tôi biết là khi nó đem nước vào văn phòng thấy có 2 cán bộ làm việc (tức lấy cung) với bác Đỗ Kế Giai, nó giả bộ ngồi nghĩ bên ngoài và kề tai vào kẻ hở vách ván nên nghe đươc bác Đỗ Kế Giai nói chuyện với 2 cán bộ làm việc.Thấy đây là màn khá hấp dẫn và có vẻ quan trọng nên tôi hết lời khen để nó kể chi tiết.
Câu chuyện Hoa không vỡ ĐKG.
Cán ngố: Hôm nay chúng tôi đến đây làm việc với anh (TT. ĐKG) là yêu cầu anh làm đơn xin khoan hồng để cấp trên xét tha anh trở về với gia đinh !
TT. Đỗ Kế Giai : TÔI KHÔNG XIN KHOAN HỒNG VÌ TRONG TRẠI TÂN LẬP CÓ HÀNG TRĂM ĐÀN EM CỦA TÔI CHƯA THẢ THÌ HÀ CỚ GÌ TÔI ĐƯỢC VỀ TRƯỚC HỌ ! HÃY THẢ HỌ TRƯỚC ĐI CÒN TÔI LÀ NGƯƠI VỀ SAU CÙNG .
Cán ngố : ? ! ? ! ? !
The end



Xin gửi các HT BĐQ 372
Nghiêm chào vĩnh biệt Tư lệnh Biệt Động Quân QLVNCH, Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai (1929-2016)

Nguyên quán Bến Tre, tốt nghiệp khóa 5 (Hoàng Diệu) Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (tháng 4,1952).
Đơn vị đầu tiên: Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù.
Chức vụ đảm nhận: TĐT/TĐ 6 ND - TĐT/TĐ 5ND- Chiến Đoàn Trưởng CĐ2 ND, 1962 - Tham Mưu Trưởng SĐ 25 BB - Tư Lệnh SĐ 10 BB, 1966 (Tiền thân của SĐ 18 BB) - Chỉ Huy Trưởng BĐQ, 1972 - Tư Lệnh BĐQ cho tới 30/4/1975.
Chuẩn Tướng năm 1967 và vinh thăng Thiếu Tướng năm 1974.
Tù CS từ ngày 15/5/1975 tới 5/5/1992 (1 trong 4 Tướng VNCH cuối cùng ra khỏi tù CS, cùng Thiếu Tướng Trần Bá Di, Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo và Chuẩn Tướng Lê Văn Thân).

(Trích trả lời cuộc phỏng vấn của Đ/T Phạm Huy Sảnh ngày 1/1/2004):
" Trong suốt nhiều tuần lễ trước 30-4-1975, tôi liên tục đi thăm các đơn vị trực thuộc. Tại mọi nơi tôi đều ra lệnh lực lượng Biệt Động Quân tử thủ bảo vệ Sài Gòn theo lệnh của cấp trên. Tinh thần chiến đấu của anh em Biệt Động Quân rất cao, cũng như đạn dược và tiếp vận đầy đủ. Sau ngày ông Thiệu và ông Khiêm rời khỏi nước cùng với việc người Mỹ di tản nhân viên Việt Nam của họ và gia đình khỏi Sài Gòn thì tình hình tại Thủ Đô lúc này trở nên xáo trộn. Dân chúng, cán bộ chính quyền hoang mang sợ hãi. Những tin tức thất thiệt bất lợi cho VNCH ảnh hưởng tai hại đến số quân nhân và gia đình tại Sài Gòn. Trước hoàn cảnh bi đát đó, cảm thông những lo âu của thuộc cấp, tôi cho lệnh tập họp các quân nhân mọi cấp tại Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân, lúc đó đóng tại Sài Gòn và ra lệnh: (nguyên văn) "Trên cương vị là Tư lệnh Biệt Động Quân, tôi tuyệt đối tuân hành lệnh của thượng cấp nghĩa là Biệt Động Quân chúng ta quyết tâm bảo vệ Thủ Đô và dân chúng Sài Gòn. Tuy nhiên vì tình hình ở ngoài dân chúng quá sợ hãi, ảnh hưởng đến gia đình quân nhân. Truớc tình huống này ai muốn đi (đi Mỹ) và đi được thì cứ đi, nhưng nhớ rằng tôi không thể ra lệnh cho các anh bỏ đơn vị. Tôi chấp nhận làm ngơ coi như không biết những quân nhân và gia đình muốn rời khỏi VN." Sau lệnh đó, tại Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân chỉ có 1 sĩ quan là Thiếu tá Tạ Thái Hòa, Chánh Văn Phòng của tôi đem gia đình đi Mỹ, còn tất cả quý vị khác từ. Tư Lệnh Phó, Tham Mưu Trưởng đến các Trưởng Phòng đều ở lại cho đến ngày 1-5-1975, bàn giao cho phía bên kia."

" ... về việc tôi ra lệnh lực lượng Biệt Động Quân tử thủ bảo vệ Thủ Đô, tôi xác nhận là đúng. Tôi không hề hay biết trực tiếp hay gián tiếp rằng ông Dương Văn Minh sẽ đầu hàng Cộng Sản cho đến khi ông ta đọc lệnh trên đài phát thanh vào sáng ngày 30-4-1975. Tôi là một sĩ quan gốc nhảy dù, một tướng lãnh. Truyền thống của Quân Lực là thi hành lệnh tuyệt đối. Trong tinh thần đó, tôi ra lệnh cho Biệt Động Quân phải tử thủ để chu toàn trách nhiệm. Riêng cá nhân tôi cùng các vị Tư Lệnh Sư Đoàn 106, Sư Đoàn 101, các Liên Đoàn Trưởng, các cán bộ chỉ huy, các đơn vị tác chiến cũng như những sĩ quan trong Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân đều đã ở lại cho đến phút chót. Những điều tôi yêu cầu các chiến hữu Biệt Động Quân phải làm, cá nhân tôi cũng thực thi đúng như vậy. Cho nên sau này gặp lại các đồng đội trong trại tù Cộng Sản tôi không hổ thẹn với lương tâm."

"...Tướng Times của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, liên tiếp vào các ngày 28 và 29 tháng 4-1975 đến gặp tôi và hỏi nếu tôi và gia đình muốn đi Mỹ, ông ta sẵn sàng giúp đỡ lo liệu. Cả hai lần tôi đều cám ơn Tướng Times và từ khước đề nghị đó. Nại cớ tôi còn trách nhiệm, tôi còn quân sĩ, tôi không thể ra đi trong hoàn cảnh nầy được. ..."

"...tôi tự nhận đã làm tròn bổn phận, trách nhiệm của một Tướng Lãnh đối với đồng đội, với Tổ Quốc khi tại ngũ. Và suốt gần 17 năm tù đày, trước mặt kẻ thù trong mọi hoàn cảnh tôi luôn cố gắng gìn giữ tác phong để bảo vệ Danh Dự của Quân Lực. - Đối với người Cộng Sản, dù họ không thích tôi nhưng họ không thể khinh tôi! Những người Cộng Sản bắt giữ tôi vẫn còn đó."

Trích thơ làm trong tù CS tại Việt Bắc (1984):

…“Ý thức hệ miền Nam kiếp nạn
Chín năm cố quốc dạ nào quên.
Không xoay thế cuộc, anh hùng lụy
Hào kiệt ngục trung, nợ nước đền.
Anh hùng mưu sự chẳng nên
Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời.
Mài gươm rồi để hận đời
Chôn vùi thế hệ lụy người tù chung.
Oán thế nhân, xin đừng trách nữa
Lỗi lầm này hãy sửa sai chung.
Ðem xương máu học bài đắt giá
Chi đem thành bại luận anh hùng.
(Ðỗ Kế Giai-1984)

obien81
 

 Vị tướng già trong nhà dưỡng lão
 

Huy Phương


 

“Anh hùng mưu sự chẳng nên

Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời!”

(Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai)

 

DALLAS Một người bình thường lúc về già sống cô đơn trong nhà dưỡng lão đã là một chuyện buồn, một vị tướng lãnh đã từng bao năm trận mạc, hôm nay sống trong một nhà dưỡng lão quạnh hiu đã gây không ít cho chúng tôi những cảm xúc bùi ngùi đau xót khi đến thăm ông.


Cùng với anh Thái Hóa Lộc, chủ nhiệm tuần báo Người Việt-Dallas, chúng tôi đến thăm Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai vào một chiều Chủ Nhật mùa Ðông tại “Pleasant Valley Healthcare and Rehabilication Center, 1525 Pleasant Valley Rd., Garland, TX 75040.” Khi chúng tôi bước vào phòng, thấy ông đang ngồi trên chiếc xe lăn, ông cho biết đang thay y phục, nên chúng tôi tạm lui ra chờ. Khi trở lại, ông đã tươm tất hơn trong bộ đồ mới.

 


Ký giả Huy Phương và Thiếu Tướng Giai trong nhà dưỡng lão ở Dallas Ft Worth tháng 12, 2015. (Hình: Thái Hóa Lộc)

 

Nhận ra anh Lộc là người quen, thường thăm viếng ông, ông vui vẻ chuyện trò và nhờ chúng tôi đẩy ông ra ngoài phòng khách ngay lối ra vào, nơi mà các y tá có thể quan sát. Ở đây đã có nhiều ông bà già hiện diện, tất cả đều ngồi xe lăn. Ðây là một thói quen của ông, mỗi chiều, hoặc là ngồi đây vui hơn, hoặc là ông đang chờ ai đó, có thể vào thăm ông. Vào chiều Chủ Nhật, nhưng tôi không thấy có một thân nhân nào đến thăm những bệnh nhân ở đây, ngoài chúng tôi đang ngồi với Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai.

Ông chuyện trò rời rạc, khi đáp những của thăm hỏi của tôi, là người khách lần đầu đến thăm ông.

Lúc còn khỏe và tỉnh táo, trí nhớ tốt, mỗi tuần ba ngày, ông đến sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên tại thành phố Garland.

Bà Ðỗ Kế Giai qua đời vào tháng 11, 2012 sau khi ông vào bệnh viện được ba tháng. Từ bệnh viện, ông được chuyển thẳng về trung tâm này. 

Ông bà có tất cả bảy người con, một gái và sáu trai. Bốn người đều ở các tiểu bang xa, chỉ còn lại ba người con trai ở gần ông. Hiện nay, ông còn có thể tự ăn uống và lo chuyện vệ sinh cho mình. Ông đã ở đây hơn ba năm, và tỏ bày: “Ở đây buồn quá!”

Những vị cao niên nằm trong viện dưỡng lão như hoàn cảnh của ông, còn nhớ chuyện này chuyện nọ, còn biết buồn, biết vui, có lẽ cảm thấy khổ hơn là những người đã mất trí nhớ hoàn toàn.

Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai sinh năm 1929 tại Bến Tre, trong một gia đình điền chủ, ông theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên Quân Ðà Lạt, ra trường vào tháng 4, 1952, và đơn vị đầu tiên của ông là Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, đóng tại Bắc Việt. 

Lần lượt ông đã giữ các chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù, chiến đoàn trưởng Chiến Ðoàn 2 Nhảy Dù (1962), tham mưu trưởng Sư Ðoàn 25 BB, tư lệnh Sư Ðoàn 10 BB (tiền thân của SÐ 18BB-1966). Năm 1967 ông mang cấp bậc chuẩn tướng. Năm 1972, ông là chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Ðộng Quân và được vinh thăng thiếu tướng vào tháng 4, 1974.

 


Hình Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai 42 năm về trước. (Hình: Gia đình cung cấp)



Ngày 28 tháng 4, 1975, Tướng Times bên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp đưa cả gia đình ông đi Mỹ, nhưng ông quyết định ở lại vì trách nhiệm của một tướng lãnh. Ngày 15 tháng 5, 1975, Cộng Sản đến nhà mời ông đi họp và đưa thẳng vào khám Chí Hòa, sau đó đưa ông cùng với các vị tướng lãnh khác ra Bắc Việt. 

Ðến ngày 5 tháng 5 năm 1992, sau 17 năm ông mới được trả tự do, là một trong 4 vị cấp tướng cuối cùng ra trại với Thiếu Tướng Trần Bá Di, Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo và Chuẩn Tướng Thiếu Tướng Lê Văn Thân. 

Ông và gia đình được xếp vào danh sách H.40 nhưng cuối cùng được đôn lên H.07, đến Mỹ vào tháng 11 năm 1994 và định cư tại thành phố Garland, Texas.

Theo lời kể của anh Thái Hóa Lộc, không phải là thân thích của ông, người vẫn thường ghé thăm ông, cho biết ông thích ăn các thức ăn Pháp và thích nhâm nhi chút rượu, nếu có thể. Lúc còn khỏe, ông cũng sẵn sàng nói chuyện xảy ra trong thời loạn lạc, một số chi tiết về Ðại Tướng Cao Văn Viên liên quan đến vụ đảo chánh 1963, cái chết của Thiếu Tá Nhung và một số chi tiết nhưng ông yêu cầu không nên đưa lên báo chí.

Bây giờ có chuyện nhớ chuyện quên nhưng ông cho biết vào mùa Ðông thân thể thường đau nhức, “chỉ có Wishky mới trị nổi thôi,” điều mà bác sĩ hoàn toàn cấm, nhưng đôi khi các cô y tá cũng thông cảm cho ông, khi biết ông xưa kia là một tướng lãnh. 

Ông tâm sự với chúng tôi, là ông đã nghĩ đến ngày ra đi và không sợ chết. Ngày ông mất, xin nhờ bên anh em thuộc binh chủng Nhảy Dù lo chuyện hậu sự cho ông tươm tất là ông cảm thấy mãn nguyện rồi. 

Ông đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ dài ông đã làm trong nhà tù Bắc Việt sau 9 năm bị giam cầm (khoảng năm 1984.) Bài thơ dài 65 câu, lời thơ đầy bi phẫn, xót xa của một tướng lãnh thất trận và là của một người tù không bản án, vô vọng không có ngày về. 

Chỉ trong vòng mười lăm phút, ông đã đọc đi đọc lại cho chúng tôi nghe bài thơ này ba lần, điều này chứng tỏ ông đã đi vào thời kỳ lú lẫn. Anh Thái Hóa Lộc cho tôi biết, ông thường vào thăm ông, mang thức ăn cho ông, và lần nào, anh Lộc cũng nghe ông đọc bài thơ này. Ông cho biết trong nhà tù ông đã làm bài thơ và ghi nhớ trong đầu, đọc đi đọc lại nên thuộc nằm lòng, mà không dám viết ra giấy.

Trong khi Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai đọc đi đọc lại bài thơ viết trong nhà tù Việt Bắc, chúng tôi đã ghi âm lại và chép ra để các chiến hữu và độc giả hiểu được phần nào tâm sự của ông, một vị tướng già, thất trận đang sống những ngày cuối cùng xa quê hương, lẻ loi trong một nhà dưỡng lão xa lạ. Vì khuôn khổ của trang báo, chúng tôi chỉ xin trích một đoạn trong bài thơ của ông, bài thơ chưa đặt tên:


...“Ý thức hệ miền Nam kiếp nạn

Chín năm (1984) cố quốc dạ nào quên.

Không xoay thế cuộc, anh hùng lụy

Hào kiệt ngục trung, nợ nước đền.

Anh hùng mưu sự chẳng nên

Cúi xuống thẹn Ðất, ngước lên thẹn Trời.

Mài gươm rồi để hận đời

Chôn vùi thế hệ lụy người tù chung.

Oán thế nhân, xin đừng trách nữa

Lỗi lầm này hãy sửa sai chung.

Ðem xương máu học bài đắt giá

Chi đem thành bại luận anh hùng.

 

(Ðỗ Kế Giai-1984)

 

Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời.




Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối tháng 12 Dương Lịch, trời đã bắt dầu se lạnh, parking vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ gìa, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.


Tôi biết trên thế giới  Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khoẻ, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.


Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.


Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước computer, vào face book hay take message với bạn bè.


Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.


Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.


Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm chẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.


Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!.


Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.


Ngày xưa, nỗi vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày Lễ Tết, và đằng giây kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”


Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu ngồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều chiếc trophy và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, chiếc đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẻ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về  và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?


Cha mẹ Việt Nam, tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

  Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.


Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây. Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.


Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.


Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

 

Buồn vui cuộc đời. . đổi đời rồi !....


 

Huy Phương


Một vì sao vừa tắt, Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đã mệnh chung


giaido 
Trong niềm bùi ngùi thương tiếc, tin thiếu Tướng Đỗ Kế Giai, người anh cả của cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa Dallas/ Fort Worth vừa mệnh chung vào lúc 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật 21 tháng 2 năm 2015 tại Dallas, đả để lại nổi buồn mất mát trong lòng người lính quốc gia. Trước khi mất, ông đã để lại di chúc không được dùng dụng cụ trợ tử, và mong muốn anh em Nhảy Dù làm lễ an táng cho ông. Gia Đình Mũ Đỏ Dallas/Fort Worth sẽ cử hành nghi thức an táng dành cho một vị Tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cũng là một vị cụu Tư Lệnh Phó của Sư Đoàn Nhảy Dù. Chương trình tang lễ Gia đình Mũ Đỏ DFW chúng tôi sẽ thông báo sau trên các phương tiện truyền thông báo chí.
Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai sinh vào tháng 6 năm 1929 tại Bến Tre, tốt nghiệp Tú Tài bán phần chương trình Pháp. Tháng 6 năm 1951 ông nhập ngũ theo lệnh tổng động viên mang số quân 49/118.249 theo học Khóa 5 Hoàng Diệu tại Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt sau này đổi thành Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch phục vụ tại tại Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù tại Hà Nội thuôc quân đội quốc gia Viêt Nam . Đời binh nghiêp của ông lần lượt qua nhiều cấp bậc và chức vụ tại các đơn vị Nhảy Dù với câp bâc sau cùng ở Nhảy Dù là Trung Tá Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù năm 1965. Sau đó thuyên chuyển về Bộ Binh lân lượt là Đại Tá Tham Mưu Trủởng Sư Đoàn 25 Bô Binh năm 1965, và Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bô Binh đến năm 1969. Chức vụ và cấp bâc cuôi cùng là Chuẩn Tướng rồi vinh thăng Thiếu Tướng làm Chỉ Huy Trưởng Biêt Động Quân từ tháng 8 năm 1972 . Những ngày tháng cuôi cùng trong quân đội, ông đang thành lâp hai sư đoàn Biệt Đông Quân thì xảy ra biến cô 30 tháng 4 năm 1975, ông bị đi tù cãi tạo hêt 17 năm, và là ngưòi tù cuôi cùng vê nhà sau hêt.
Mũ Đỏ Nguyễn văn Lập kính thông báo


Video và bài thơ với giọng đọc của Tướng Đỗ Kế Giai