Thursday, September 13, 2018

Đại Tá Thiết Giáp Trần Văn Thoàn

- Sinh tháng 3 năm 1932 tại Pháp
- Nhập ngũ ngày 11-10-1954
- Xuất thân Trường Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt
Đơn Vị Thiết Giáp
- USA Command and General Staff College, Fort Leavenworth năm 1972
- Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Bộ Binh 
- Mất tại Pháp tháng 9 năm 2018, hưởng thọ 87 tuổi 


Trần văn Thoàn và các con các cháu, vô cùng đau đớn báo tin

Đại tá Trần văn Thoàn/Quân Lực Viêt Nam Cộng Hòa, đã tử trần ngày 8 tháng 9, 2018, hưởng thọ 86 tuổi.

Lễ phát tang và cầu siêu sẽ được cử hành hồi 09:30 tại nhà quàn Funerarium d'Antony, 110 rue de Chatenay, 92160 Antony.

Lễ hỏa táng sẽ cử hành sau đó lúc 11:00 tại Crematorium du Val de Bièvre, 8 rue du Ricardo, 94110 Arcueil .

Gia đình đồng kính báo 
 
 
 
Cố Đại tá Trần Văn Thoàn / một trong những Sĩ quan kỳ cựu của Binh chủng Thiết Giáp / Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từ trần ngày 8 tháng 9, 2018 tại Pháp Quốc. 

Hưởng Thượng Thọ 86 tuổi.
Được biết : Đại tá Trần Văn Thoàn, sinh tại Pháp. Thân mẫu là người Pháp, thân phụ là ông tòa Thoàn của Tòa Án Saigon một thời gian. 
Sau khi học hết trung học, Đại tá Thoàn về Việt Nam, bỏ quốc tịch Pháp để đầu quân vào trường Võ Bị Đà Lạt.
 
 

Saturday, March 24, 2018

Thiếu Tướng Trần Bá Di Tư Lệnh Sư Đoàn 9 BB, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4, CHT TTHL Quang Trung





Chương Trình Tang Lễ Cố Thiếu Tướng Phaolô Trần Bá Di:


VIEWING
Monday April 2, 2018 
AT FUNERAL HOME:
2:00pm — 6:00pm
AT CHURCH
7:00pm— 9:30pm

FUNERAL MASS:
 April 3,2018 at
10:00am-11:00am
At Nhà thờ Phan Văn Minh

FUNERAL HOME:
DeGusipe Funeral Home & Crematory


ORLANDO, Florida (NV) – Cựu Thiếu Tướng Trần Bá Di, cựu chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, vừa qua đời tại bệnh viện Orlando Regional Medical Center, Florida, lúc 4 giờ 20 phút sáng Thứ Sáu, 23 Tháng Ba, hưởng thọ 87 tuổi.

Tin này được cô Trần Quế Hương, con gái của ông Di, xác nhận với nhật báo Người Việt qua điện thoại.
Theo “Lược Sử Quân Lực VNCH” của ba tác giả Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, và Lê Đình Thụy, Thiếu Tướng Trần Bá Di sinh ngày 20 Tháng Bảy, 1931 tại Mỹ Tho, tỉnh Định Tường.
Sau khi hoàn tất trung học, ông theo học Khóa 5 Hoàng Diệu trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt vào năm 1951, tốt nghiệp thiếu úy năm 1952, và công tác tại Mỹ Tho.
Năm 1956, ông về công tác tại Đệ Nhất Quân Khu Sài Gòn.

Tháng Mười, 1957, ông học khóa Bộ Binh Cao Cấp tại căn cứ Fort Benning, Georgia, Hoa Kỳ.
Về nước, ông vẫn làm việc ở Sài Gòn, và đến Tháng Chín, 1959, ông làm phó tỉnh trưởng tỉnh Phong Dinh, kiêm chỉ huy trưởng Cơ Quan Quân Sự Phong Dinh.
Tháng Giêng, 1963, với cấp bậc thiếu tá, ông làm tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Phong Dinh, và được thăng trung tá vào Tháng Sáu, 1964.
Đến Tháng Năm, 1965, ông lại có dịp đi Mỹ du học, lần này tại căn cứ Fort Leavingworth, Kansas.
Tháng Ba, 1967, ông làm tham mưu trưởng Sư Đoàn 9 Bộ Binh, đóng tại Sa Đéc, rồi làm tư lệnh phó sư đoàn, được thăng đại tá, và làm tham mưu trưởng Quân Đoàn 4 và Vùng Bốn Chiến Thuật kể từ Tháng Giêng, 1968.
Đến Tháng Bảy, 1968, ông được thăng cấp đại tá và làm tư lệnh Sư Đoàn 9, thay thế Thiếu Tướng Lâm Quang Thi qua làm chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia.
Tháng Tư, 1970, ông được vinh thăng chuẩn tướng nhiệm chức, đặc cách tại mặt trận.
Một năm sau, ông được vinh thăng chuẩn tướng thực thụ, cũng đặc cách tại mặt trận.
Ngày 1 Tháng Mười Một, 1972, ông được vinh thăng thiếu tướng nhiệm chức tại mặt trận. Sau đó, ông làm tư lệnh phó Quân Đoàn 4, và đến ngày 1 Tháng Tư, 1974, được vinh thăng thiếu tướng thực thụ.
Cũng trong năm 1974, vào ngày 1 Tháng Mười Một, ông được điều động về làm chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, thay thế Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đi làm tư lệnh Quân Đoàn 2 và Quân Khu 2.
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, ông bị tù Cộng Sản cho đến ngày 5 Tháng Năm, 1992.
Ngày 30 Tháng Tư, 1993, ông đoàn tụ với gia đình ở Orlando và sống ở đây cho tới khi qua đời. 
(Đỗ Dzũng)


Trần Bá Di (1931), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Võ bị Liên quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam được sự hỗ trợ của Quân đội Pháp mở ra tại nam Cao nguyên Trung phần, chuyên đào tạo sĩ quan hiện dịch để phục vụ cho Quân đội Quốc gia trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Ông đã bắt đầu với chức vụ Trung đội trưởng Bộ binh cho đến Tư lệnh phó một Quân đoàn. Ngoài ra, trong thời gian phục vụ quân đội, ông còn được bổ nhiệm vào các chức vụ ở những lĩnh vực khác như Hành chính Quân sự,[2]Quân huấn.[3]

Mục lục


Tiểu sử & Binh nghiệp

Ông sinh ngày 20 tháng 7 năm 1931, trong một gia đình giáo chức tại Mỹ Tho, miền tây Nam phần, Việt Nam. Năm 1944, khi lên Trung học đệ nhất cấp, ông học ở trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho đến năm 1949 thi đậu bằng Thành Chung. Sau đó, tiếp tục học lên Trung học Đệ nhị cấp chương trình Pháp ở trường Trung học Lê Quý Đôn, Sài Gòn. Năm 1951, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II).

Quân đội Liên hiệp Pháp

Giữa năm 1951, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 51/121.114. Theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951. Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được điều động về Tiểu đoàn 61 Việt Nam giữ chức vụ Trung đội trưởng, đồn trú tại Đức Hòa, Chợ Lớn.

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Tháng 10 năm 1952, từ Quân đội Liên hiệp Pháp chuyển sang Quân đội Quốc gia, ông được điều động trở lại trường Võ bị Đà Lạt nhận nhiệm vụ làm Huấn luyện viên khóa 8 Hoàng Thụy Đông. Đến tháng 6 năm 1953, ông chuyển đi làm Chỉ huy phó kiêm Trưởng ban 3 Chi khu biệt lập Mỹ Tho thuộc Phân khu Mỹ Tho. Tháng 4 năm 1954, ông được thăng cấp Trung úy, giữ chức vụ Liên đội trưởng Liên đội 4 thuộc Trung đoàn 2 Vệ binh Nam Việt kiêm Chi khu trưởng Chi khu Chợ Gạo và Chi khu biệt lập Mỹ Tho. Tháng 8 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp Đại úy và được chỉ định làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 582 thuộc Trung đoàn Địa phương 134, kiêm Tiểu khu trưởng Gò Công thuộc Phân khu Mỹ Tho.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Sau một thời gian chuyển sang cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa (cuối tháng 10 năm 1955, cải danh từ Quân đội Quốc gia). Tháng 6 năm 1956, ông được cử làm phó Phòng 3 trong Bộ tư lệnh Đệ nhất Quân khu Sài Gòn. Giữa năm 1957, ông được cử giữ chức vụ Trưởng phòng 3. Tháng 10 cùng năm, được cử đi du học khóa Bộ binh cao cấp tại trường Fort Benning, Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ. Tháng 4 năm 1958 mãn khóa về nước, ông được cử làm Trưởng phòng 3 Liên Quân khu I + V và Thủ đô Sài Gòn. Đến tháng 9 năm 1959, ông được chỉ định làm Phó Tỉnh trưởng Nội an tỉnh Phong Dinh kiêm Chỉ huy trưởng Cơ quan Quân sự[4]Phong Dinh thuộc Quân khu V.
Tháng 7 năm 1961, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Tháng 9 cùng năm, thuyên chuyển trở về đơn vị Bộ binh, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy Trung đoàn 33 thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh thay thế Thiếu tá Đặng Đình Thụy.[5]Đến đầu năm 1963, ông được chuyển trở lại tỉnh Phong Dinh và được bổ nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Phong Dinh. Tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.
Đầu tháng 5 năm 1965, ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Đến tháng 6 năm 1966 mãn khóa về nước, ông được chỉ định làm Tham mưu trưởng trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh đóng tại Sa Đéc thay thế Trung tá Khưu Ngọc Tước.[6]Tháng 3 năm 1967, ông được cử làm Phó Tư lệnh Sư đoàn 9 thay thế Trung tá Đặng Đình Thụy.
Tháng giêng năm 1968, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Sau đó, ông chuyển về Cần Thơ giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn IV và Vùng 4 chiến thuật. Tháng 7 cùng năm, một lần nữa ông trở lại Sa Đéc và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh thay thế Thiếu tướng Lâm Quang Thi được cử đi làm Chỉ huy trưởng trường Võ bị Quốc gia tại Đà Lạt.
Tháng 4 năm 1970, ông được đặc cách ở mặt trận thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Đến tháng 4 năm 1971, ông được cử làm Trưởng đoàn hướng dẫn phái đoàn gồm 37 quân nhân các cấp xuất sắc, thăm viếng Trung Hoa Quốc gia (Đài Loan) trong thời gian 1 tuần lễ.
Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1972, một lần nữa ông được đặc cách ở mặt trận thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Hạ tuần tháng 10 năm 1973, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh lại cho Chuẩn tướng Huỳnh Văn Lạc (nguyên Tham mưu trưởng Quân đoàn IV). Tháng 12 cuối năm, ông được chỉ định giữ chức vụ phó Tư lệnh Quân đoàn IV thay thế Chuẩn tướng Nguyễn Thanh Hoàng được xét cho giải ngũ. Ngày quốc khánh 1 tháng 11 năm 1974, ông thuyên chuyển về Sài Gòn và được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Quân trường Quang Trung thay thế Thiếu tướng Phạm Văn Phú được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2.

1975

Sau ngày 30 tháng 4, ra trình diện Ban Quân quản Chính quyền mới, ông bị đưa đi tù lưu đày từ Nam ra Bắc qua các trại giam: Cần Thơ và Hóc Môn (1975-1976). Yên Bái, Hà Tây, Nam Hà (từ năm 1976). Năm 1988 chuyển về trại tù Z30D ở Hàm Tân. Mãi đến ngày 5 tháng 5 năm 1992 ông mới được trả tự do.[7]
Ngày 30 tháng 4 năm 1993, ông được xuất cảnh đi đoàn tụ với gia đình tại Orlando, Florida, Hoa Kỳ.
Ngày 23 tháng 3 năm 2018, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 87 tuổi.

Huy chương

-Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng và một số huy chương quân sự, dân sự khác.

Gia đình

  • Thân phụ: Cụ Trần Văn Vạng (nguyên là Tổng Giám thị trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho).
  • Thân mẫu: Cụ Trần Thị Thạnh.
  • Phu nhân: Bà Đoàn Thị Bé - Ông bà có bốn người con gồm 3 trai, 1 gái (Trưởng nam: Trần Minh Trí, nguyên Thiếu úy Không quân Việt Nam Cộng hòa)
  • Bào đệ:

-Trần Bá Linh (nguyên Thiếu tá Bộ binh Việt Nam Cộng hòa).
-Trần Bá Thanh (nguyên Đại úy Bộ binh Việt nam Cộng hòa).
-Trần Bá Nhân (nguyên Thiếu úy Không Quân Việt Nam Cộng hòa).

Tuesday, February 27, 2018

Đại Tá Nguyễn Văn Đông (1932-2018)

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông có quê quán Bến Cầu, Tây Ninh, một nhân tài âm nhạc đã vĩnh viễn ra đi, những văn nghệ sĩ chúng tôi xin thành kinh phân ưu cùng tang quyến về sự mất mát lớn lao cùa Nhạc sĩ. Nguyện cầu hương linh cùa ông sớm về cõi ngàn thu an bình.
Nguyễn Văn Sâm, Lê Bình, Hà Nguyên Du, Nguyễn Lý Sáng, Phan Tấn Ngưu, Nguyễn Quang (mđht), Trần Mạnh Chi, Phạm Hồng Thái, Phạm Quốc Bảo, Ngọc Cường, Phạm Kim, Trần Quốc Bảo, Ông Như Ngọc, Lam Phương, Bích Huyền, Hồng Vũ Lan Nhi, Cao Mỵ Nhân, Cung Trầm Tưởng, Kim Liên, Lê Văn Khoa, Ngọc Hà, Nguyễn Bá Thảo, Bồ Đại Kỳ, Phạm Đăng Khải, Mỹ Dung, Ngọc Quỳnh, Trịnh Nam Sơn, Diễm Chi, Hoài Niệm, Kim Tuyến, Dương Viết Điền, Trần Quảng Nam, Dương Như Nguyện, Lê Tuấn, Hoàng Vinh, Dương Ngọc Sum, An Nguyễn Kiều Mỹ Duyên, Mindy Lưu Anh Tuấn, ThụyVy, Thúy Vinh, Quyên Di, Nguyễn Hữu Thời, Thanh Thanh, Thanh Thúy, Thanh Mỹ, Thanh Châu, Vanessa Hồng Vân, Trọng Nghĩa, Kim Tước, Hồng Tước, Thanh Tước, Karen Trịnh Thanh Thủy, Nguyễn Thanh Thủy Houston, Phan Anh Dũng, Trần Quang Hải, Lê Dinh, Ái Cầm Thái Tú Hạp, Gina Nga Nguyễn, Như Hảo, Loanne Ngọc Loan, Lucie Thanh Vân, Vân Khanh, Đào Đức Nhuận, Nhật Uyên, Lệ Hoa, Annie Trần Dallas, Ngô Thụy Miên, Olivia Mai Tú Trâm, Phong Lê Mai, Lê Hân, Phan Ni Tấn, Trường Sa, Võ Tá Hân, Vương Trùng Dương, Phan Tấn Đạt, Chu Bá Yến, Trương Duy Cường, Hồng Thủy Bùi Cửu Viên, Lê Mộng Nguyên, Phạm Mạnh Đạt, Nguyễn Minh Vũ Minh Phương Vân Bằng Nguyễn Trọng Nho, Yên Sơn, Cát Biển, Nhược Thu, Khiếu Long, Phan Đình Minh, Dân Kim Lâm, Tania Thái Hà, Châu Thái Loan, Topaz Trần, Túy Vân MS, Vy Lan, Du Tử Lê, Lê Hữu, Ngô Thiện Đức, Mão Đặng, Phạm Ngọc Tú, Phạm Hòa cùng Việt Hải.
Đồng Thành Kính Phân Ưu.
----------------------------------------------------
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả ‘Chiều Mưa Biên Giới’, qua đời, (February 26, 2018).

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (trái) cùng vợ và nhạc sĩ Trần Quốc Bảo chụp trước cửa tiệm Nhiên Hương năm 1996 (Hình: nhạc sĩ Trần Quốc Bảo cung cấp)
Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả tình khúc nổi tiếng “Chiều Mưa Biên Giới”, vừa qua đời lúc 4 giờ 30 sáng Thứ Hai, ngày 26 Tháng Hai (tức 7 giờ 30 tối 26 Tháng Hai theo giờ Việt Nam) tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi.
Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo, chủ nhiệm đặc san Thế Giới Nghệ Sĩ, xác nhận tin trên với phóng viên Người Việt.
“Tôi nhận được tin do ca sĩ Giao Linh từ Sài Gòn gọi sang cho hay. Giao Linh là học trò rất thân với thầy Nguyễn Văn Đông. Chị Giao Linh vào bệnh viện thăm thầy buổi trưa, vừa về vài tiếng thì nghe người nhà của thầy gọi cho biết là thầy qua đời,” nhạc sĩ Trần Quốc Bảo cho biết.
Cũng theo lời nhạc sĩ Trần Quốc Bảo, “Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông được đưa vào bệnh viện một vài ngày trước do khó thở, và vì những bệnh già chứ không phải bệnh tật gì nặng hết. Thế nên việc ông ra đi đột ngột khiến ai cũng bàng hoàng. Bản thân tôi cũng cảm thấy buồn quá!”
Theo Wikipedia, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sinh ngày 15 Tháng Ba, 1932 tại Sài Gòn, trong một gia đình nguyên là một điền chủ lớn có nhiều ruộng đất ở Tây Ninh
Ông nguyên là một sĩ quan Bộ binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc cuối cùng là đại tá. Ông xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tầu và sau đó là trường Võ Bị Quốc Gia do Chính phủ Quốc gia mở ra tại miền Nam Việt Nam vào cuối thập niên 40 của thế kỷ trước.
Năm 1954, ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa “Tiểu đoàn trưởng” tại Trung tâm Chiến thuật Hà Nội. Ông từng giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trọng pháo 553 và là Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của Quân đội Quốc gia khi mới 22 tuổi.
Cuối năm 1957, ông được cử đi du học khóa Chỉ huy tham mưu tại tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ.
Tháng 11, 1972, ông được thăng cấp Đại tá chuyển sang làm Chánh Văn phòng cho Tổng Tham mưu Phó. Ông đã ở chức vụ này cho đến cuối Tháng 4 năm 1975.
Ông bị bắt đi tù cải tạo 10 năm. Kể từ đó ông đã ngừng sáng tác nhạc. Ông không xin đi xuất cảnh theo diện H.O, mà ở lại Sài Gòn sống cùng vợ tại quận Phú Nhuận.
Trong thời gian ở trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, ông được học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp sang giảng dạy. Năm 16 tuổi, ông đã có những sáng tác đầu tay như “Thiếu sinh quân hành khúc”, “Tạm biệt mùa hè”…
Trong thập niên 1950, ông nổi tiếng khi là Trưởng Đoàn Văn Nghệ Vì Dân với thành phần ca nhạc sĩ tên tuổi như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Đàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ sân khấu danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, diễn viên điện ảnh Trang Thiên Kim…
Từ năm 1958, ông là Trưởng ban Ca nhạc Tiếng thời gian của Đài Phát thanh Sài Gòn, gồm những danh ca, nhạc sĩ danh tiếng như Lệ Thanh, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Đàm, Anh Ngọc…
Ông còn là Giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, cộng tác với những nhạc sĩ tên tuổi như Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Y Vân…
Vợ chồng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (ngồi) chụp tại tư gia của ông năm 2014 cùng các ca sĩ Giao Linh, Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan, Phương Hồng Ngọc, Kim Anh , Michael, nhạc sĩ Trần Quốc Bảo (Hình: nhạc sĩ Trần Quốc Bảo cung cấp)
Nhiều sáng tác của ông viết về chủ đề người lính Việt Nam Cộng Hòa thời đó, như nhạc phẩm “Phiên gác đêm xuân” được ông viết vào đêm Ba Mươi Tết năm 1956 khi gác phiên ở khu 9 Đồng Tháp Mười, “Chiều mưa biên giới” ra đời năm 1956 và nổi tiếng qua tiếng hát của Trần Văn Trạch…

Ông còn có nhiều bút danh khác như Phượng Linh, Phương Hà trên một số nhạc phẩm tình cảm như “Khi đã yêu”, “Thầm kín”, “Niềm đau dĩ vãng”, “Nhớ một chiều xuân”…
Với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975 như Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng…
Về gia đình riêng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, theo nhạc sĩ Trần Quốc Bảo thì “Hầu như những người thân đều biết cô Nguyệt Thu là vợ của thầy Đông. Hai thầy cô lấy nhau từ khi nào thì không rõ nhưng chắc chắn một điều là sau khi thầy ra khỏi tù cải tạo năm 1985, cô Thu một tay quán xuyến một cửa hàng bán bánh mì, giò chả tên Nhiên Hương tại nhà đường Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận, và lo lắng chăm sóc cho thầy không rời nửa bước.”
“Với thầy Đông, tôi chỉ biết nói rằng tôi kính phục ông nhất hai điểm, đó là tài hoa và tư cách,” nhạc sĩ Trần Quốc Bảo cảm nhận.
Chủ nhiệm đặc san Thế Giới Nghệ Sĩ nói thêm, “Được biết, do không có con cháu, nên trong cáo phó của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông có ghi ‘không nhận vòng hoa, phúng điếu’ vì sợ sau này không có người trả lễ.” (Ngọc Lan)
Đại Tá QLVNCH- Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận Nhất, Sài Gòn. Nguyên quán ông bà, cha mẹ ông ở huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Thuở nhỏ ông theo học trường Huỳnh Khương Ninh ở Đa Kao. Khi đất nước gặp phải những biến động lớn lao vào năm 1945, gia đình ông bị liệt vào thành phần địa chủ, cường hào nên lâm vào cảnh khuynh gia bại sản, gia đình ly tán. Do đo, tuổi thơ của ông là người con duy nhất trong gia đình cũng bị vùi dập để cuốn theo thời cuộc lúc bấy giờ.
Trước khi theo học trung học ở trường Huỳnh Khương Ninh, nhờ gia đình khá giả nên ông đã được cho học ở nhà với thầy giáo riêng. Cho nên tuổi thơ của ông đến trường thì ít mà học ở nhà thì nhiều.
Sau khi trường trung học mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo học là Hùynh Khương Ninh đóng cửa, ông tự ý xin gia nhập trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Đây là trường võ bị đầu tiên và lâu đời nhất của Việt Nam. Đó cũng là nơi đào tạo nhiều vị tướng lãnh tài ba của Quân Đội VNCH. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã trải qua 5 năm ăn học ở ngôi trường này. Và chính tại đó ông đã được học nhạc và văn hóa với những giáo sư người Pháp có thực tài. Đó là những giảng viên của Viện Âm Nhạc quốc gia Pháp được cử về trường Thiếu Sinh Quân giảng dạy. Chính vậy mà nền văn hóa Tây Phương đã ảnh hưởng đến ông rất nhiều.
Sau khi ra trường Thiếu Sinh Quân, ông gia nhập trường Võ Bị Sĩ Quan Vũng Tầu và tốt nghiệp năm 1952 với cấp bậc thiếu úy. Kế đó ông nắm chức vụ trung đội trưởng tại trường Võ Bị Đà Lạt và tốt nghiệp năm 1953. Qua năm 1954, ông về trường Chiến Thuật tại Hà Nội để giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng. Trong hai năm 1955 và 1956, ông phục vụ tại Phân Khu Đồng Tháp Mười trong chức vụ trung úy Trưởng Phòng Hành Quân.
Cũng trong thời gian này, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ Trưởng Phòng 3 của Chiến Khu Đồng Tháp Mười do đại tá Nguyễn Văn Là làm chỉ huy trưởng, tham gia chiến dịch Thoại Ngọc Hầu do thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ huy. Ông không sao quên được một kỷ niệm có lần tướng Minh đã đến bắt tay ông để tỏ lòng ngưỡng mộ tác giả của những ca khúc về đời lính chiến ngay tại mặt trận Chiến Khu Đồng Tháp. Và hình ảnh cái bắt tay này đã được in trên trang nhấr của báo Chiến Sĩ Cộng Hoà.
Đến năm 1957, ông theo học khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu tại Hawaii. Và cũng trong thời gian này ông cho ra đời nhạc phẩm “Nhớ Một Chiều Xuân”.
Cũng qua cuộc nói chuyện với người viết, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông chọn binh nghiệp là nghề nghiệp chính. Mặc dù ông được học nhạc chính quy ở trường, nhưng âm nhạc chỉ là nghề tay trái.
Từ cấp bậc thiếu úy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bước dần lên cấp bậc đại tá. Ông từng được nhận huy chương cao quí nhất của Việt Nam Cộng Hòa là Bảo Quốc Huân Chưong vào giữa thập niên 60. Sau biến cố tháng 4 năm 75, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã kết thúc cuộc đời binh nghiệp của mình trong tăm tối bằng 10 năm tù cải tạo. Đúng như ông đã dự đoán cuộc đời thăng trầm của mình bằng 2 câu kết của nhạc phẩm “Chiều Mưa Biên Giới: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng thì đường trần còn mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi”.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng nhấn mạnh thêm là chưa bao giờ ông phục vụ ở Cục Chiến Tranh Chính Trị như nhiều người lầm tưởng. Ông chỉ đích thực là một người lính tác chiến, rồi sau đó trở thành sĩ quan tham mưu cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 75, đầu tiên nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị đưa đi tù cs. tại trại Suối Máu. Nhưng không lâu sau, ông bị chuyển về nhà tù Chí Hòa cho đến khi được trả tự do vào năm 1985. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông đã rất đau buồn vì không được nhìn thấy mặt thân phụ lần cuối trong thời gian ông ở tù cải tạo. Trong khi đó thân mẫu ông đã qua đời trước đó vào năm 1971.
Sau khi được trả tự do vào năm 1985, sức khỏe của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không được mấy khả quan đến từ nhiều căn bệnh như đau bao tử, thấp khớp và nhất là cao huyết áp nên đã không còn cảm thấy hứng thú trong việc sáng tác ngoài một số bài viết trong khoảng hơn 30 năm nay.
(Nguồn giadinhhoangtrong)
Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông, Đại tá QLVNCH: http://nhacvang-nguyen.blogspot.com/…/nhac-si-nguyen-van-on…
Nhạc Nguyễn Văn Đông qua tiếng hát Hà Thanh: https://102phim.com/…/nhac-nguyen-van-dong-qua-tieng-hat-ha…
Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông - Các Bài Hát Chọn Lọc Hay Nhất Thu Âm Trước 1975: https://102phim.com/…/nhac-si-nguyen-van-dong-cac-bai-hat-c…
NHỮNG CA KHÚC HAY NHẤT CỦA NGUYỄN VĂN ĐÔNG [20 Ca Khúc] -TNP: https://102phim.com/…/nhung-ca-khuc-hay-nhat-cua-nguyen-van…
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, tác giả ‘Chiều Mưa Biên Giới’, qua đời: https://www.nguoi-viet.com/…/nhac-si-nguyen-van-dong-tac-g…/
Nguyễn Văn Đông: Giữa binh nghiệp và âm nhạc, Trường Kỳ: https://giadinhhoangtrong.wordpress.com/…/nguyen-van-dong-…/
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, Tuan's Blog: http://tuanvannguyen.blogspot.com/…/nhac-si-nguyen-van-ong.…
Mùa xuân trong nhạc của Nguyễn Văn Đông, Cát Linh, phóng viên RFA: https://www.rfa.org/…/Soul-of-spring-in-Nguyen-Van-Dong-mus…
Tuyển tập “Thánh Ca Giáng Sinh” của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông: https://dotchuoinon.com/…/thanh-ca-giang-sinh-tuyen-tap-ng…/
Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông, bài Lê Hữu: http://amnhac.fm/…/5250-nguoi-linh-trong-nhac-nguyen-van-do…
Binh nghiệp và Nhạc nghiệp của Nguyễn Văn Đông, bài Du Tử Lê: https://dongsongcu.wordpress.com/…/binh-nghiep-va-nhac-ngh…/
FB Trần Việt Hải  


- Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vừa trút hơi thở cuối cùng lúc 19g30 ngày thứ hai 26 tháng 2 tại Bịnh viện Chợ Rẫy.
- NGUYỄN VĂN ĐÔNG (sinh 1932), là một nhạc sĩ, quân nhân Việt Nam Cộng hòa nổi tiếng trước 1975. Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử.
- Cuộc đời binh nghiệp :
- Nguyễn Văn Đông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận 1, Sài Gòn nhưng nguyên quán của ông ở Lợi Thuận, Bến Cầu, Tây Ninh. Thuở bé, do điều kiện gia đình, ông học ở nhà dưới sự hướng dẫn của thầy học. Sau ông theo học bậc trung học tại trường Huỳnh Khương Ninh, Đa Kao.
- Năm 1945, chính quyền Pháp đóng cửa trường Huỳnh Khương Ninh. Năm 1946, gia đình gửi ông vào trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Vũng Tàu, khi đấy ông mới 14 tuổi.
- Thời gian tại trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông được học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp sang giảng dạy. Chỉ sau một thời gian ngắn sau, ông trở thành một thành viên của ban quân nhạc thiếu sinh quân, học cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Năm 16 tuổi, ông đã có những sáng tác đầu tay như “Thiếu sinh quân hành khúc”, “Tạm biệt mùa hè”…
- Sau khi tốt nghiệp trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông nhập ngũ chính thức vào Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1951, ông được cử theo học khóa 4 trường Võ bị Sĩ quan Vũng Tàu và tốt nghiệp thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy vào năm 1952. Năm sau, ông được cử đi học khóa huấn luyện “Ðại đội trưởng” tại trường Võ bị Ðà Lạt. Năm 1954, ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa “Tiểu đoàn trưởng” tại trường chiến thuật Hà Nội. Ra trường, ông nhận chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trọng pháo 553, trở thành Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của Quân đội Quốc gia Việt Nam khi mới 24 tuổi.
- Sau Hiệp định Genève, 1954, ông chuyển vào Nam, phục vụ tại Phân khu Đồng Tháp Mười với chức vụ Trung úy Trưởng phòng Hành quân. Thời gian này, ông còn kiêm nhiệm chức Trưởng phòng 3 (Tác chiến) của Phân khu, dưới quyền Đại tá Nguyễn Văn Là, tham gia Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu 1956. Bấy giờ, tướng Dương Văn Minh là Tư lệnh chiến dịch, từng đến bắt tay ông tỏ lòng ngưỡng mộ. Bức ảnh chụp tướng Minh bắt tay ông đã được in trên trang nhất của báo Chiến sĩ Cộng hòa. Ông thăng đến chức đại tátrong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
- Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, Nguyễn Văn Đông bị bắt đi học tập cải tạo 10 năm và ngừng sáng tác từ đó. Hiện ông sống tại Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh cùng gia đình.
- Hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc
- Nguyễn Văn Đông từng nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc ở Sài Gòn trước 30 tháng 4 năm 1975. Trong thập niên 1950, Nguyễn Văn Đông nổi tiếng khi là Truởng Đoàn văn nghệ Vì Dân với thành phần ca nhạc sĩ tên tuổi như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Đàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, diễn viên điện ảnh Trang Thiên Kim… Ông đã tổ chức và điều khiển các chương trình đại nhạc hội tại Sài Gòn và khắp các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa.
- Từ năm 1958, Nguyễn Văn Đông là trưởng ban ca nhạc Tiếng Thời Gian của Đài Phát thanh Sài Gòn, gồm những danh ca, nhạc sĩ danh tiếng như Lệ Thanh, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Đàm, Anh Ngọc… Năm sau ông là trưởng ban tổ chức Đại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc ở cấp quốc gia, đã huy tụ trên 40 đoàn văn nghệ đại diện cho cả miền Nam cùng tranh giải suốt 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Ông cũng từng nhận giải âm nhạc quốc gia, một giải thường do Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân trao tặng.
- Nguyễn Văn Đông còn là giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, cộng tác với những nhạc sĩ tên tuổi như Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Y Vân… Hai cơ sở của ông cho ra đời nhiều chương trình tân nhạc cũng như cổ nhạc gồm các vở tuồng và cải lương. Chính Nguyễn Văn Đông là người đã tiên phong thực hiện album riêng cho từng ca sĩ mà trước đó chưa từng ai làm. Ông đã thực hiện loạt băng nhạc Sơn Ca nổi tiếng trong đó có Khánh Ly với băng nhạc Sơn Ca 7, Thái Thanh và ban Thăng Long- Sơn Ca 10, Lệ Thu – Sơn Ca 9, Phương Dung – Sơn Ca 5 và 11, Giao Linh – Sơn Ca 6, Sơn Ca – Sơn Ca 8… và một số album riêng cho Trịnh Công Sơn.
- Nhiều sáng tác của Nguyễn Văn Đông viết về chủ đề người lính miền Nam thời đó. Nhạc phẩm “Phiên gác đêm xuân” được ông viết vào đêm 30 Tết năm 1956 khi gác phiên ở khu 9 Đồng Tháp Mười. “Chiều mưa biên giới” ra đời năm 1956 và nổi tiếng qua tiếng hát của Trần Văn Trạch. “Chiều mưa biên giới” và “Mấy dặm sơn khê” đã từng gây cho ông nhiều khó khăn khi bị Bộ Thông tin Việt Nam Cộng hòa ra quyết định cấm phổ biến vì lý do phản chiến vào năm 1961. “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp” nổi tiếng qua tiếng hát của Hà Thanh nhưng thường bị nhầm với nhạc phẩm Khúc tình Kinh Kha của Phạm Duy. Hà Thanh cũng chính là ca sĩ trình bày thành công nhất các nhạc phẩm của ông.
- Nguyễn Văn Đông còn có nhiều bút danh khác như Phượng Linh, Phương Hà trên một số nhạc phẩm tình cảm như “Khi đã yêu“, “Thầm kín“, “Niềm đau dĩ vãng“, “Nhớ một chiều xuân“… Với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975 như

Nửa đời hương phấn, 
Đoạn tuyệt, 
Tiếng hạc trong trăng, 
Mưa rừng…
- Một số tác phẩm :
- Anh Anh trước, tôi sau

Bà mẹ hai con
Bài ca hạnh phúc
Bến đò biên giới
Bông hồng cài áo trắng[3]
Chiều mưa biên giới
Chúc tết (Đông Phương Tử)
Chuyện tình hoa pensée
Cuốn theo chiều gió
Cung thương ngày cũ (đồng sáng tác với Mạnh Phát)
Dáng xuân xưa
Đêm buồn (đồng sáng tác với Lam Phương)
Đêm thánh huy hoàng
Đôi bờ thương nhớ
Đồng Tháp duyên gì (ký bút hiệu Vì Dân và viết chung với Minh Kỳ)
Hải ngoại thương ca
Hiến dâng
Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp
Khúc xuân ca
Lá thư người lính chiến
Lời hứa ban đầu (Phương Hà)
Màu xanh Noel (Phương Hà)
Mấy dặm sơn khê
Mùa sao sáng
Ngày mai anh về
Ngày vui pháo nhuộm đường
Người tình yêu dấu
Nguyện cầu trên bến ngàn năm
Nếu có em bên anh
Nhớ một chiều xuân
Nhớ người viễn xứ (đồng sáng tác với Lâm Tuyền)
Núi và gió
Phiên gác đêm xuân
Sắc hoa màu nhớ (Vì Dân)
Thu hoài cảm
Tình cố hương
Tình đầu xót xa
Trái tim Việt Nam
Truông mây
Về mái nhà xưa
Vô thườngViệt Nam hôm nay (Phương Hà)
Xa người mình yêu (Phương Hà)
Xin chúa thấu lòng con
- Phượng Linh
- Bóng nhỏ giáo đường

Cay đắng tình đời
Chiếc bóng công viên
Cô nữ sinh Gia Long
Dạ sầu
Đoàn chim cánh sắt (đồng sáng tác với Ngọc Sơn)
Đom đóm
Đoạn tuyệt
Giáo đường chiều chủ nhật
Khi đã yêu Lời giã biệt
Nỗi buồn duyên kiếp 
Niềm đau dĩ vãng
Thầm kín (Bẽ bàng)
Thương muộn
Thương về mùa đông biên giới
Tình người ngoại đạo
Xin đừng trách anh
Soạn lời Việt:
Ave Maria (Franz Schubert)
Đêm thánh vô cùng (“Stille Nacht” của Franz Xaver Gruber)
Hồi chuông nửa đêm (“The One Horse Open Sleigh“, tức “Jingle Bells“, của James Pierpont)Nguồn : wikipedia.org
NHỮNG CA KHÚC CỦA NGUYỄN VĂN ĐÔNG:
TÌNH NGƯỜI NGOẠI ĐẠO
NHỚ MỘT CHIỀU XUÂN 
VỀ MÁI NHÀ XƯA
SẮC HOA MÀU NHỚ

Phu nhân nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chịu tang bên linh cữu chồng.
(Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Những ngày sau Tết Mậu Tuất, người dân Sài Gòn nhận tin buồn về sự ra đi của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.
Thông tin về cuộc đời binh nghiệp và sự nghiệp âm nhạc của vị cựu sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam Cộng Hòa đầy khắp các trang mạng cá nhân. Điều này một lần nữa cho thấy, sự thật lịch sử dù bị khỏa lấp hay bôi xóa ở mức độ nào đi nữa, thì tấm gương những người trí thức Quốc Gia chân chính phụng sự tổ quốc Việt Nam vẫn sáng ngời trong lòng dân tộc.
Trong không gian giản dị của tang lễ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông trên đường Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận, Sài Gòn; người đến viếng không khỏi xúc động và ca từ bài Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông lại vang lên. “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu? Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu. Kìa rừng chiều âm u rét mướt. Chờ người về vui trong giá buốt người về bơ vơ…”
Linh cữu và di ảnh nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. 
(Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Linh cữu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông được quàn tại tư gia: 271A Nguyễn Trọng Tuyển, phường 10, quận Phú Nhuận, Sài Gòn. Lễ động quan diễn ra vào 12 giờ ngày 2 Tháng Ba, nhằm ngày 15 tháng Giêng Mậu Tuất, sau đó nhạc sĩ được hỏa táng tại nghĩa trang Bình Hưng Hòa.

Chiều Sài Gòn không hề giống nỗi buồn ở chốn hoàng hôn của người lính chiến nơi biên cương, nhưng tâm thức tưởng nhớ vị quân nhân, người nhạc sĩ chân chính vừa vĩnh biệt đượm màu u ẩn.
Hầu chuyện phu nhân của nhạc sĩ, bà cho biết. Lúc ông từ nhà tù của chế độ Hà Nội về, bệnh tật khiến ông không đi, đứng được, ông chỉ nằm đó như một cái xác, không người thân nào tin ông có thể sống. Hàng xóm ai cũng thương cảm. Nhưng rồi bằng nghị lực phi thường và sự chăm sóc của gia đình ông vượt qua tình trạng bạo bệnh mắc phải trong thời gian 10 năm chịu lao tù.
Cùng lúc viếng tang lễ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là vợ chồng ca sĩ Giao Linh. Phu quân của ca sĩ Giao Linh thuật lại. Trước lúc ra đi, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông có dặn dò gia đình. Đừng nhận phúng điếu cho dù số tiền phúng điếu để được sử dụng làm từ thiện cũng không nên, vì ông với gia cảnh không con cháu sau này biết lấy ai trả nợ đáp lễ.
Giữa một con đường Sài Gòn chiều tan tầm đông người, xe đông đúc, tang lễ vị trí thức, sĩ quan quân lực VNCH, người nhạc sĩ lớn chỉ có mỗi người vợ chung thủy chịu tang.
Cảnh tang lễ tại tư gia nhạc sĩ trên đường Nguyễn Trọng Tuyển, 
Phú Nhuận, Sài Gòn. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Sau biến cố 1975, thường khi nhiều người thuộc thế hệ trẻ, đặt câu hỏi. Vì sao không có đủ thông tin về những vị trí thức chân chính đã phục vụ chính thể VNCH? Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là người con sinh ra và trưởng thành của đất Sài Gòn Gia Định, người đã chọn ở lại để được về với đất mẹ như lúc trước biết cố 1975 người đã chọn sự nghiệp binh nghiệp và âm nhạc, đặt tình yêu nước lên trên hết với tất cả danh dự và tránh nhiệm; cả khi phải buộc phải tồn tại trong nghịch cảnh lịch sử vẫn một lòng gìn giữ khí tiết của người phụng sự chính nghĩa Quốc Gia.
Hôm nay, vĩnh biệt vị nhạc sĩ lớn Nguyễn Văn Đông, nhưng các ca khúc vang danh của ông vẫn vang mãi trong lòng các thế hệ trẻ Việt Nam. 
(Trần Tiến Dũng) Người Việt